Thursday, June 20, 2019

1167. Thơ NGUYỄN DƯƠNG QUANG Điều chợt thấy trong một buổi chiều

Hồ Xuân Hương, Đà Lạt, photo by Phạm Cao Hoàng, 9.2017


hồn treo theo đám mây cuối trời
sẽ tan dần đâu đó, một nơi
theo con chim lẻ trên cành nhỏ
sẽ bay, chờ cánh mỏi, tàn hơi

ta đã sống những ngày bạc màu
quanh quất một bầu trời tan tác
nhiều khi chẳng biết đâu còn, mất
lời nào xin cho những nỗi đau?

ờ! thì đâu có gì mãi mãi
ba ngàn thế giới cũng phù vân
chỉ tình yêu: một điều kỳ lạ
hương tóc người thơm suốt trăm năm

nhớ lại thuở lạnh mầm tuổi trẻ
súng trên tay sạm mặt quay cuồng
sống phải bơi theo dòng lịch sử
lịch sử thì ngàn năm nhiễu nhương

tóc bạc trắng sao còn đau đáu
sao còn nghèn nghẹn một quê hương
những dòng sông cuộn tràn ai oán
và núi kia trơ trọi kêu thương

chiều nay ta thấy ta leo mỏi
tự bao giờ tới đỉnh cô liêu
mắt tìm theo bóng con chim lẻ
tiếng hót buồn vọng miết trong chiều.

NGUYỄN DƯƠNG QUANG
6.2019

Triển lãm mỹ thuật, chủ đề: HỒI TƯỞNG Với 6 họa sĩ: Ann Phong, Nguyễn Việt Hùng, Nguyên Khai, Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Đồng, Dương Văn Hùng.

Triển lãm mỹ thuật, chủ đề:

HỒI TƯỞNG
tại Nhật báo Người Việt.
14771 Moran St. Westminster CA 92683

Với 6 họa sĩ:
Ann Phong, Nguyễn Việt Hùng, Nguyên Khai,
Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Đồng, Dương Văn Hùng.


Ngày giờ mở cửa:
Thứ Bảy 22 và Chủ Nhật 23/6/2019,
từ 11 giờ sáng đến 7 giờ chiều.

Giờ tiếp tân:
Thứ Bảy 22/6/2019  từ 3-6 giờ chiều.



Tuesday, June 18, 2019

1155. Truyện NGUYỄN MINH NỮU Bài thơ cuối cùng

Ảnh: Google image

Lời Mở : Nhận vật và tình tiết trong truyện là do tưởng tượng. Xin đừng nghĩ rằng tôi nhắm vào ai, bởi vì, trước nhất tôi cũng là một người làm thơ, cũng đã gửi bài đăng trên báo giấy, báo mạng, trang web bạn bè và cả trên facebook của mình, nên nếu bạn nghĩ tôi đang nói về tôi thì cũng được, nhưng tốt nhất là nên nghĩ về một nhân vật ẢO thì vui hơn.


Sinh là một người làm thơ giỏi. anh ta có thể làm đủ loại thơ từ lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, bài nào cũng đúng vần, đúng luật.  Sinh làm thơ nhiều, cho nên anh gửi bất cứ nơi nào anh có địa chỉ, báo ngày, báo tuần, báo tháng, báo năm, báo trang web trên mạng, và cả những người có lập trang  trên hệ thống internet.  Mỗi khi có dịp đi đến đâu, anh ghi chú các địa danh nổi tiếng để khéo léo ghép vào trong thơ, sau đó thêm vào một chút hương vị thương nhớ ,tình yêu gì đó, thí dụ đến Cần Thơ thì trong bài phải có bến Ninh Kiều, Hậu Giang, đến  Huế thì phải có cầu Trường Tiền, tà áo tím, về Đà Nẵng thì thêm đỉnh Bà Nà, Cầu Hàn... Thơ gửi tới khắp các báo  đài địa phương,  Địa phương thấy nhắc đến các địa danh riêng mà lại đang  dư trang thiếu bài, thế là gửi nhiều rồi cũng có bài được đăng. Sinh chụp lại  đưa lên facebook khoe thêm lần nữa. Còn nếu đang trên các trang báo mạng thì viết lời cám ơn, chép lại đường dẫn. Lâu ngày, bút hiệu của Sinh cũng khá quen thuộc trong giới văn nghệ .

Nhưng làm thơ giỏi không có nghĩa là làm thơ hay. Cũng có người bạn thân tình nói với Sinh như vậy, và dẫn chứng có nhiều người làm thơ có khi chỉ năm ba bài mà ai cũng đọc và trân trọng, ghi nhớ,  thí dụ ngày xưa như Hữu Loan , Thâm Tâm , gần đây như cô giáo Trần Thị Lam...

Sinh thực ra không phải người ương ngạnh, cho nên cũng có nghe, nhưng lòng riêng vẫn cho rằng thay vì làm được một bài thơ tuyệt tác, thì làm thật nhiều thơ trong đó cũng sẽ có một bài hay chứ.  Sinh dẫn chứng  như chuyện hai cô ca ve đó.

-Hai cô ca ve nào?

-Thì là chuyện kể thôi, thời quân đội Mỹ còn đóng quân ở Việt Nam, có hai cô ca ve thuê chung một phòng. Một bữa cô A đi về, trên tay đeo cái nhẫn kim cương 5 cara, cô B ngạc nhiên hỏi sao mày có. Cô A trả lời tao quen với một thằng Thiếu Tá Mỹ. Cô B gật đầu, một tháng sau cô B cũng có một cái nhẫn kim cương 5 cara. Cô A vui vẻ hỏi mày cũng quen một thằng Thiếu Tá hả?  Cô B trả lời , đâu có, tao quen với 20 chục thằng Trung Sĩ thôi.

Bạn nghe , nổi giận. Ống ví chuyện làm thơ với chuyện đi khách là không lịch sự.

Sinh mỉm cười, im lặng, nhủ thầm lòng mình tranh cãi làm gì với thằng hẹp hòi đó. Nhiều lúc tụ họp bạn bè , khi chén rượu đầy vơi, cả bọn hứng thú, ngâm thơ, hát nhạc cho nhau nghe thật là thú vị. Có điều thơ ai thì người ấy đọc, nhạc ai thì người ấy hát, chẳng ai đọc thơ người khác vì thơ chính mình làm xong rồi bỏ đó có khi không thuộc lấy đâu ra mà thuộc thơ người khác.
  
Những lúc một mình, Sinh thầm tự hỏi làm thế nào  để viết ra dược một bài thơ hay. Mà một bài thơ như thế nào là hay?. Nghĩ hoài không hiểu được. Chuyện là một hôm ngồi đối diện với màn hình trắng toát, lòng trống không, đầu óc mơ mơ màng màng, bỗng dung tháy gió thổi rì rào rồi từ xa bước vào một chàng thư sinh mặc trang phục trắng theo như kiểu cách ngày xưa, đầu đội khăn, mặt đẹp như ngọc. cắp mắt sáng , môi đỏ thật duyên dáng.

Sinh : “Vội vàng đón hỏi gần xa. Thần tiên lạc lối đâu mà đến đây” (Kiều).

Chàng thư sinh khiêm cung chắp tay chào lại và nói: "Vì ngài khao khát muốn gặp, nên ta khởi nhã ý tới đây hội diện, Ta là Thi Thánh đây".

Sinh kêu lên mừng rỡ: "Ôi trời... Tôi là người từ nhỏ đã hết lòng yêu quý và trân trọng thơ ca, trải qua sáng tác viết xuống cả năm ba ngàn bài  mà chân lý mong tìm cho một bài thơ bất tử vẫn chưa tìm thấy. Khao khát cầu hiền, mong được chỉ lối sang ra khỏi đường mê nay được gặp ngài thật là hữu hạnh".

Thi Thánh cười nhẹ: "Thơ không phải là vật trang trí , mà là huyết lệ của mỗi tầng cảm xúc. Thơ chẳng phải viết ra để thỏa lòng yêu thích, mà phải bắt nguồn và nối tiếp bởi muôn ngàn cảm xúc từ người thưởng ngoạn, cái đó, hạ giới không nhìn được, nhưng cõi trên đong đo đếm được từng cảm xúc thật của người ngoài đối với một bài thơ  được viết ra, và ta chính là người thu thập dữ liệu cho ghi nhận đó".

Sinh cung kính: "Thật là hay quá, xin ngài có thể cho tôi được nghe một vài bài thơ của ngài để tôi học hỏi hay không?".

Thi Thánh cười lớn: "Ta không làm thơ".

-Không biết làm thơ mà sao là Thi Thánh được?

Thi Thánh nói ngọt ngào: "Thế đấy bạn ơi, bạn cũng như nhiều người hiểu lầm lắm. Trời sinh ra một người làm thơ là cho họ thiên khiếu hơn người về thẩm mỹ, nên họ đọc một bài thơ là lập tức có cảm nhận được đây là bài thơ  ở trình độ nào, nhưng chia sẻ được cảm xúc, thấm thía được nghĩa tình, rung động được hàm ý. Chuyển tải được khắp nơi, ghi nhận được trong lòng, nhớ ra được khi cần thì lại thuộc một thành phần khác, đó là quần chúng. Trong quần chúng đó cũng có thể có người làm thơ , nhưng khi đó họ đóng một vai khác".

Nghỉ một chút, Thi Thánh chỉ tay về phía xa xa: "Nơi đó là một khu rừng bạt ngàn không giới hạn, tất cả những cây trong đó là những người làm thơ từ bao đời nay, họ còn sống hay họ đã chết không ảnh hưởng gì đến sự sống còn và phát triển của cây. Thực ra như thế này, mỗi người khi trót làm ra một bài thơ, thì trong khu Thi Lâm đó lập tức nảy lên một chồi tích trữ suốt một đời của một người làm thơ đó. Cho  nên trong Thi Lâm có những cây cao vạn trượng, tỏa bóng mát ra cả một vùng rộng lớn, có những cây lừng lững như bóng  núi, tỏa ảnh hưởng suốt một vùng thời gian, có những cây cao vừa tầm dáng người, cũng có hoa , có lá nhưng chỉ chưng lên gọi cho là có chứ chẳng ai để ý tới ai , và có những cây suốt đời, suốt cả một đời luôn vẫn không cao hơn ngọn cỏ".

Thi Thánh nói tiếp: "Ngài có muốn theo ta đi thăm một khoảng Thi Lâm không? Ta là người chịu trách nhiệm trông nom bảo tàng Thi Lâm, nên được phong chức Thi Thánh, tương tự như coi sóc một ngọn núi thì được chức Sơn Thần vậy thôi, chứ không phải người làm thơ".
  
Thi Thánh dứt lời, đứng dậy, tay áo phất phơ dời khỏi vị trí. Sinh thảng thốt bước theo... chỉ chút  sau đã thấy mình đang ở giữa rừng bạt ngàn, cây cao cây thấp chen nhau, có cây mỏng manh như Liễu, có cây hùng vĩ như Tùng, có cây nghiêng theo dáng núi , có cây uốn lượn thế suối... trăm nghìn kiểu dáng khác nhau.  Có cây rậm rạm chi chít lá non, có cây  lốm đốm lá vàng, có cây lá úa quắt queo hoặc có khi lá đã hủ nát vẫn bám vào thân. Dưới những cây đại thụ khổng lồ, lại có rất nhiều những cây nho nhỏ, nhưng không có nắng chiếu vào nên cây cành còi cọc... Sinh tò mò muốn hỏi nhưng chưa biết đề cập từ đâu. Chỉ tay vào một cây đại thụ tỏa bóng rợp trời , Sinh hỏi đây là nhà thơ nào.

Thi Thánh lắc đầu: "Không phải ta muốn dấu, nhưng thực là không thể nói ra. Những cây cao lớn như vậy là những nhà thơ mà thơ của họ chấn động tiền nhân, bàng hoàng hậu thế, bài thơ viết ra sống trong tim nhiều người, nên mỗi lòng xúc động một người là cây có thêm một lá xanh non, thêm một nhánh tưởng nhớ. Cái vĩnh viễn sống đời là Tác Phẩm chứ không phải Tác Giả. Như Ngài thấy có những cây lốm đốm lá vàng, đó cũng là lòng cảm xúc nhưng chưa là kính phục, hay những chiếc lá mục nát là những lòng khinh thị dè bỉu của người đời. Tác phẩm càng được nhiều lòng kính trọng yêu thương chia sẻ thì cây như có thêm phân, thêm nước, phát triển lớn lên hùng hùng vĩ vĩ..."

Sinh ngần ngừ một chút rồi hỏi: "Thi Thánh có thể chỉ cho tôi biết tôi là cái cây nào không?"

Thi Thánh gật đầu: "Ở trong Thi Lâm này, Ngài gọi tên ngài thì chẳng có ai đáp lại, nhưng nếu ngài đọc một câu thơ nào đó thì cái cây chủ của câu thơ đó sẽ rung lên và phát ra tiếng reo để ngài nhận diện.".

Sinh thú vị, nhưng chợt nảy ra một ý khác , bèn đọc một câu thơ của người khác coi cái cây thơ đó rung động ra sao, nên cao giọng ngâm lên:

      Chàng Vương quen mặt ra chào
      Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.

Đọc vừa dứt, bỗng cây cổ thụ  cao lớn xanh mướt hướng tây rùng rùng chuyển động và phát ra âm thanh như tiếng sáo trúc... Thì ra cây đó là cây thơ Nguyễn Du.

Sinh lại đọc tiếp:

      Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
      Áo nàng xanh anh mến lá sân trường.

Lần này thì ngay bên cạnh, cành lá một cây vạm vỡ vươn cao rùng mình và thoát ra một âm thanh nghe như tiếng sóng, thì ra cây thơ Nguyên Sa.

Lần này Sinh dùng sức bình sinh đọc hai câu thơ của chính mình  mà chàng đắc ý nhất. Đọc xong, chả thấy cây cao nào rùng mình, chẳng nghe tiếng động nào vọng đến...

Thi Thánh nhẹ nhàng chỉ ra phía bờ suối. Ra đó Sinh thấy một cái cây cao chừng một thước, cũng có rung, cũng có âm thanh nhưng rung yếu như gió thoảng và âm thanh nhỏ xíu như tiếng muỗi kêu. Trên cây có dăm ba lá xanh, nhiều nhất là lá vàng, và mươi chồi non, chồi nào cũng héo úa không thể phát triển được.

Sinh không hiểu hết ý nghĩa lá cây nên nhờ Thi Thánh giải thích.

- Lá xanh là tác phẩm được một người nào đó đọc và  cảm nhận được trọn vẹn ý tình bài thơ, Lá vàng là bài thơ được đọc, được yêu thích những còn chút gì đó người đọc chưa hài lòng, lá úa mục là những lời chê trách chân tình của người đọc lướt qua. Cái nặng nhất là những chồi non mà bị héo khô, đó là những bài nhận định về thơ, viết ra từ sự giả dối, hời hợt có thể vì tình thân nên viết, có thể do nể nang nên viết, có thể do nhận tiền nên viết, những cái đó nếu là những cảm xúc chân thật, nhận xét chuẩn xác thì trở thành cầu nối để người sau đọc và thấu hiểu thơ hơn, thành những chồi non, thêm lá mới, phát triển thành cành thành nhánh cho cây, thì nay lại èo uột, thui chột, héo tàn ngay khi vừa nảy ra, chẳng những làm cây xấu đi , mà còn cho cây khó phát triển sau này.

Sinh cúi đầu nghĩ ngợi, quay lại thì Thi Thánh đã biến mất hồi nào. Sinh ngoái người tìm quanh, chợt vấp phải gốc cây ngã nhào và bật tỉnh.

Nhìn lại trên bàn viết, còn đây bài thơ mới viết hôm qua, định gửi đi cho một tờ báo nào đó. Sinh đưa tay vo tròn tờ giấy, liệng thẳng vào thùng rác. Sinh nhủ thâm, đó sẽ là bài thơ cuối cùng.

Chính xác là Bài Thơ Cuối Cùng cho một thời ảo vọng, viết xuống không bằng cảm xúc mà viết như một kỹ năng, viết xuống không phải bằng niềm khao khát thiết tha nào mà chỉ là ham muốn đập cái tên của mình vào mắt mọi người, những bày vẽ, đỏm dáng nhìn lại thấy buồn.

Kể từ ngày mai, Sinh cũng sẽ làm thơ, làm khi có thực sự cảm xúc và nhất là làm vì muốn chiêm nghiệm cho chính mình. Chợt bàng hoàng nhớ lại câu viết của Raine Maria Rilke  trong Mười Bức Thư gửi người Thi Sĩ Trẻ Tuổi:  " Đừng hỏi ai hết, không một người nào đem đến cho ông lời khuyên giải hay giúp đỡ. Hãy tự hỏi chính ông rằng nếu người ta cấm ông viết, có làm cho ông phải chết đi không? Nhất là, ông hãy tự hỏi vào giây phút thầm lặng nhất trong đêm tối, tôi có thực sự cần phải viết hay không. Nếu ông có thể đối mặt với câu hỏi nghiêm trọng này như thế bằng một câu trả lời dứt khoát giản dị “Tôi phải viết”, nếu có thể trả lời như thế thì ông hãy xây dựng đời ông theo mối nhu cầu tâm tư ấy. Ngay trong những giây phút lạnh nhạt nhất, hoang trống nhất, đời sống của ông phải trở thành dấu hiệu và chứng tích cho lòng khao khát thôi thúc ấy".

Lời sau chót của người kể chuyện : "Tôi thực sự không biết rõ là sau Bài Thơ Cuối Cùng của một thời đó, Sinh có còn làm thơ nữa hay không, nhưng tôi thấy chàng vẫn viết miệt mài , và  khuôn mặt chàng càng lúc càng sáng rỡ, tươi tỉnh và rất thanh tịnh. Có điều cái bút hiệu ngày xưa nằm đầy trên các truyền thông đó hoàn toàn không xuất hiện trên bất cứ báo  đài nào".

Một Người yêu thơ và mê thơ từ thời thơ ấu chắc chắn không thể thanh thản sống nếu không được làm thơ. Phải vậy không ta?
  
NGUYỄN MINH NỮU
Tháng 5.2019 

1164. DINO BUZZATI Vì tôi là con của mẹ Trương Văn Dân dịch từ nguyên tác tiếng Ý


DINO BUZZATI
Vì tôi là con của mẹ
Trương Văn Dân  dịch từ nguyên tác tiếng Ý

Nhà văn Dino Buzzati (1906-1972)

Nhiều năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn còn thầm hỏi hai người tài xế đã nói gì trên đường chở linh cửu mẹ tôi  đến nghĩa trang .

Ðó là một cuộc hành trình dài hơn 300 km, tuy đường vắng người nhưng xe đi rất chậm. Lũ con chúng tôi theo sau bằng xe hơi, giữ khoảng cách chừng 100 thước, và đồng hồ đánh dấu tốc độ 60 km/giờ. Có thể loại xe tang  được chế tạo để di  chuyển chậm nhưng sao tôi cứ nghĩ là có một quy luật nào đó, xem tốc  độ là một điều bất  kính với người đã khuất. Ðiều này hơi vô lý – bởi tôi tin mẹ tôi sẽ  rất thích nếu xe chạy 120 km/giờ, ít ra cũng tạo cho người cái cảm giác về một chuyến đi  bình thường như những dịp hè về Belluno nghỉ  mát. 

Bữa đó là một ngày tháng sáu tuyệt vời, hai bên con đường quen thuộc mà mẹ tôi đã đi  qua lại hằng trăm lần đang hiện ra những cánh đồng bát ngát  mà bây giờ người không nhìn thấy nữa. Mặt trời lúc ấy đã lên cao, hơi  nóng trên đường nhựa bốc lên làm đoàn xe phía trước giống như  đang lửng lơ trong không khí.

Ðồng hồ vận tốc chỉ 60 km/giờ, xe tang như đứng yên một chỗ vì có nhiều xe qua mặt , trên đó chở những người đang sống  tự do, hay những cô gái thả  tóc bay trong gió,  ngồi cạnh các thanh niên trên xe mui trần. Rồi những xe cam nhông, kể cả loại kéo rờ mọt cũng vượt  qua phía trước … Tôi nghĩ  sao mà dại thế, phải chi người ta chở linh cửu mẹ tôi trên một xe thể thao màu đỏ, phóng hết tốc lực để hiến dâng cho người thêm chút  nữa về đời sống thực, thay vì chậm chạp lăn trên đường  như  một đám tang.

Bởi những lý do đó nên  tôi muốn biết là hai người tài xế đã nói những gì; một người khoảng ba mươi lăm tuổi cao chừng thước tám, khuôn mặt hiền lành, còn người kia cũng to con với màu da sạm nắng. Tôi thoáng thấy họ ngay từ lúc khởi hành và chợt  nghĩ  với vóc dáng như thế, họ không mấy phù hợp với việc lái xe tang; một chiếc cam nhông chở ống sắt có lẽ  sẽ thích hợp với họ nhiều hơn .

Sở dĩ tôi muốn biết là họ đã nói với nhau những gì bởi vì đó là câu chuyện cuối cùng của loài người, những lời lẽ cuối cùng của cuộc sống mà mẹ tôi còn nghe được; vì  trong cuộc hành trình dài và nhàm chán đó thế nào mà hai gã tài xế  không nói chuyện với nhau. Còn việc  sau lưng họ có linh cửu mẹ tôi thì đối với họ nào có quan trọng gì, dĩ nhiên, công việc này đã quá quen với họ, nếu  không  chắc  họ đã chọn nghề khác  .

Ðó là những lời cuối  mà mẹ tôi còn nghe được vì  sau khi đến nghĩa trang,  các nghi lễ của nhà thờ sẽ bắt đầu, và từ lúc ấy những âm thanh và lời  lẽ sẽ không còn dành cho cuộc sống này nữa, mà  dành cho một thế giới khác.

Họ đang nói với nhau về chuyện gì? Về sự oi bức? Về thời gian cần thiết khi quay lại?  Họ kể chuyện gia đình hay bàn về kết quả các trận túc cầu bữa trước?  Họ chỉ  cho nhau những quán ăn ngon nằm rải rác trên đường rồi tiếc rẻ vì không ngừng lại được? Hay bàn tán về xe hơi với những hiểu biết  về cơ giới như những tay sành sõi? Tuy là tài xế xe tang, nhưng có mấy ai dính líu đến ngành cơ khí mà không đam mê máy móc? Hay họ tâm sự với nhau về những cuộc phiêu lưu tình ái?  Mầy còn nhớ con bé tóc vàng bán nước ở cái quán cạnh cây xăng mà bọn mình thường dừng lại ? Ðúng là con đó đó. Thôi đừng xạo cha nội, tao không tin. Thiệt mà, tao thề liền đó…   Hoặc họ đang kể cho nhau những chuyện tiếu lâm tục tĩu? Bỡi vì hai gã đó cứ tưởng chẳng có ai; cái hòm gỗ đóng kín nằm đằng sau như không  hiện hữu, vì họ đã quên rồi…

Và mẹ tôi phải nghe những lời đùa bỡn ấy cùng với những trận cười khoái trá?  Chắc thế, người đã nghe và con tim đớn đau của người lại co thắt thêm lên, chẳng phải vì xem thường hai gã đàn ông lạ mặt mà chính vì nỗi cay đắng là phải nghe những lời  lẽ đó thay vì nghe giọng nói của những đứa con  mà người  hằng yêu thương.

Tôi còn nhớ lúc gần đến Vicenza, khi cái nóng trưa tròn bóng làm rung mờ bóng hình mọi vật, đã bàng hoàng nghĩ  lại là thời gian sau này tôi đã sống quá ít bên cạnh mẹ. Rồi chợt nghe một mũi nhọn buốt đau giữa ngực, như người ta thường gọi là niềm ân hận.   
    
Ngay lúc ấy  -  không hiểu sao trước đó vẫn chưa hề xảy ra  -  âm vang giọng nói của người bắt đầu dội lại trong tôi, của những buổi sáng đến phòng người trước khi ra  tòa soạn: “Mẹ có khoẻ không? “  “đêm qua mẹ ngủ được “  ( mà tôi biết  là  nhờ những mũi thuốc an thần )  “con đi làm nghen mẹ”  “ừ  thôi con  đi  đi ”.

Tôi  bước được vài bước trong hành lang thì giọng nói đầy sợ hãi của người  vọng đến: “ Dino!” Tôi quay lại . “Con về ăn trưa chứ ?” “Dạ” “ Còn bữa cơm chiều?”.

“Còn bữa cơm chiều?”  Chuá ơi, trong câu hỏi bình thường đó có ẩn chứa một ước vọng nhỏ nhoi. Người không yêu cầu cũng không đòi hỏi gì ở tôi, chỉ nói để hỏi thăm một tin tức thế thôi.

Nhưng tôi đang có những cuộc hẹn hò ngu xuẩn, với những đứa con gái chưa chắc đã thương yêu gì tôi, thậm chí còn cóc cần đến tôi nữa… nhưng ý nghĩ trở về nhà lúc tám giờ ba mươi tối trong căn nhà buồn thảm, đượm không khí già nua bệnh hoạn như nỗi chết cận kề đã làm tôi sợ hãi; mà đã có mấy ai can đảm thú nhận những điều kinh khủng này, dù  rằng rất thật? “Con cũng không biết nữa, con sẽ điện thoại về sau ” Tôi thường trả lời như thế. Và tôi chắc thông báo là  sẽ không về. Có lẽ người cũng  biết là tôi sẽ nói thế nên hai tiếng  “đi đi”  mang một nỗi buồn vô tận. Nhưng tôi là một đứa con ích kỷ. Ích kỷ như tất cả mọi đứa con.

Lúc đó tôi không hề ân hận, không hề ăn năn hay có một ray rức nào. ” Con sẽ điện thoại về” và người đã thừa hiểu là tôi sẽ không về nhà ăn tối.

Mẹ tôi già nua, bệnh tật và biết là ngày tàn sắp đến nên rất hài lòng nếu tôi về ăn tối ở nhà để bà bớt cô đơn. Bà chỉ cần tôi hiện diện, dù không nói lời nào hay đôi khi gắt gỏng về những việc bất như ý trong ngày. Nằm bất động trên giường nhưng bà sẽ thấy ấm lòng và được an ủi nếu nghe tiếng lục đục của tôi ăn cơm trong bếp.

Nhưng tôi thì không. Tôi quả thật là thằng khốn nạn và ngu đần vì trong khi tôi đi khắp thành phố Milano để vui chơi cùng bè bạn thì chính đấng sinh thành, điểm tựa thật và duy nhất, sinh vật có một không hai trên cõi đời có khả năng thông cảm và yêu thương, trái tim duy nhất có thể rướm máu vì tôi ( và tôi sẽ không bao giờ tìm được dẫu sống thêm ba trăm năm nữa ) đang nằm chờ chết .

Tôi chỉ cần nói vài lời với người trước bữa ăn tối về công việc và sinh hoạt trong ngày, tôi ngồi trên đi văng và mẹ nằm duỗi cẳng trên giường. Rồi sau bữa cơm tối, mẹ vui lòng để tôi đi đâu mặc kệ ; người đâu có tiếc gì, trái lại, còn  vui mừng nữa nếu tôi có những cơ hội giải khuây. Nhưng trước khi ra khỏi nhà để lao mình trong đêm tối tôi sẽ đến chào người  “mẹ đã chích thuốc chưa ?”  “Chích rồi, mẹ hy vọng là đêm nay ngủ được”.

Mẹ chỉ yêu cầu có thế. Nhưng ngay cả điều nhỏ nhoi này tôi cũng không làm được, do lòng ích kỷ thấp hèn. Bởi vì tôi là con; và trong sự ích kỷ của kẻ làm con tôi đã không cần biết là mình đã thương mẹ bao nhiêu. Ðể bây giờ, trong khoảng khắc cuối đời, trên đường ra nghĩa trang, người phải nghe những lời tán gẫu, những chuyện tiếu lâm và tiếng cười  thô lỗ của hai gã đàn ông lạ mặt. Ðấy là món quà cuối cùng mà cuộc đời đã dành cho mẹ.

Giờ thì quá muộn rồi. Không còn gì nữa. Đã muộn quá rồi. Gần hai năm qua, tảng đá đã hạ xuống để mãi mãi đóng kín ngôi mộ trong lòng đất, nơi ánh sáng lờ mờ có linh cửu của ông bà, cha mẹ nằm chồng chất lên nhau. Ðất đã lấp kín những đường rãnh, đây đó mọc lưa thưa vài chùm cỏ dại. Mấy chậu hoa mới đặt trong chậu đồng vài tháng trước giờ  phai tàn đến nỗi không còn nhận ra hình dáng. Không. Những ngày mẹ bệnh hoạn và biết mình sắp chết chắc chắn sẽ không bao giờ lùi lại. Mẹ vẫn câm lặng, mẹ không trách móc gì tôi và có thể là người đã tha tội cho tôi, bởi vì tôi là con của mẹ. Mà chắc là mẹ đã tha tội cho tôi. Thế nhưng cứ mỗi lần nghĩ đến, tâm hồn tôi lại bất an.

Mỗi một niềm đau sẽ được khắc lên tấm bia bằng chất liệu diệu kỳ, so với  nó cẩm thạch vẫn còn mềm như đất sét. Và thời gian dù vô tận cũng chưa đủ để làm nó phai mờ. Sau một triệu thế kỷ niềm đau và nỗi cô đơn của mẹ do tôi gây ra sẽ còn mãi  mãi. Và tôi sẽ không thể nào cứu vãn. Tôi chỉ còn biết thở dài, và hy vọng là người nhìn thấy.

Nhưng mẹ không nhìn thấy tôi. Người đã chết, xác thân bị huỷ hoại, không còn sống nữa hay đúng hơn là chẳng còn gì ngoài sự mục rữa hình hài  đã bị tháng năm xúc phạm, theo sự phân hủy kinh hoàng và đau đớn của thời gian.

Không còn gì? Ðúng là không còn gì. Mà quả thật về mẹ tôi đã không còn gì nữa?

Biết đâu! Có  khi, nhất là trong những buổi chiều đơn độc, tôi lắng nghe một cảm xúc lạ lùng. Có một điều gì đó xâm nhập trong tôi mà trước đó vài giây chưa hề có, như một bản thể mơ hồ ngự trị trong tôi làm tôi không còn cô độc, và mỗi cử chỉ, mỗi một lời  đều như có chứng nhân của một linh hồn bí ẩn. Mẹ!  Nhưng phép lạ chỉ kéo dài rất ít, chừng một giờ rưỡi chứ không hơn. Rồi sau đó dòng đời lại tiếp tục nghiền nát tôi dưới những bánh xe khô khốc và bạo tàn của nó . 

Sunday, June 16, 2019

1163. PHẠM CAO HOÀNG 10 bài thơ cho Đà Lạt

Giữa Đà Lạt sương mù - Photo by Minh Lân - Đà Lạt, 2012


1.
CHIỀU ĐI NGANG
QUA THUNG LŨNG FOX

• cho Hoa, sinh nhật em

một hôm mây trắng tôi về
qua thung lũng Fox lòng nghe ngậm ngùi
nhớ Đà Lạt quá, em ơi!
và mây trắng với những đồi thông xưa
chờ nhau, mấy giọt cà phê
nhìn nhau, một nụ hôn vừa trao nhau
bây giờ, bốn mươi năm sau
tôi về, mây trắng trên đầu bay ngang
vẫn cùng em đi lang thang
vẫn yêu em đến vô vàn, biết không?
vẫn yêu Đà Lạt vô cùng

Virginia, 6.2017

Một hôm mây trắng tôi về - Photo by Phạm Cao Hoàng – Thung lũng Fox, 6.2017

2.
CŨNG MAY CÒN CÓ NƠI NÀY

rồi em và tôi đi xa
mang theo hình bóng quê nhà thân thương
bây giờ đời đã muộn màng
nửa vòng trái đất lang thang quê người
xa quê hương em và tôi
cùng chia nhau những ngọt bùi đắng cay
cũng may còn có nơi này
có mây có khói có cây cỏ và
có rừng Scibilia
để tôi còn nhớ chút Đà Lạt xưa
để còn mơ một ngày về
đi về phía Ngã Ba Chùa cùng em
đi tìm lại chút êm đềm
đoạn serenade và đêm thơ tình
nụ cười em lúc bình minh
bàn tay rất ấm hôm mình quen nhau
và căn nhà thuở ban đầu
bức tranh và những gam màu tôi yêu
đi tìm lại những buổi chiều
qua cây cầu nhỏ tôi theo em về
đi tìm lại những đam mê
những hò hẹn những đợi chờ ngất ngây
cũng may còn có nơi này
để tôi còn có những ngày bên em

Virginia, March 2015

Rừng Scibilia, Virginia - Photo by Phạm Cao Hoàng - January, 2016 


3.
ĐÀ LẠT
VÀ CÂU CHUYỆN VỀ KHU VƯỜN THI SĨ

và bài thơ tôi viết đêm nay
là bài thơ sau bốn mươi năm
kể từ hôm tôi nắm tay em
chầm chậm đi qua Khu Hòa Bình
xuống con dốc Duy Tân
rẽ sang Hai Bà Trưng
và dừng lại nơi chiếc cầu Vĩnh Viễn

đêm ấy
Đà Lạt có một chút mưa bay
có tiếng hát của Lê Uyên Phương, của Phụng, của Tiên
của Nhượng, của Phong, của Triền, của Chức
em mặc chiếc áo dài màu xanh của miền đồi núi
đôi mắt hồn nhiên như một bài thơ tình
đi bên em trong đêm cao nguyên
tôi nói với em về ước mơ của chàng lãng tử
chàng lãng tử đưa em đến một khu rừng
và dừng lại bên dòng suối
nói với em rằng tôi yêu em
nói với em rằng tôi sẽ không xa em
đi bên em trong đêm cao nguyên
tôi nói với em về câu chuyện thần tiên
tôi và em đi đến một khu vườn
nơi mọi người chỉ biết yêu nhau
chỉ biết tặng nhau hoa, nụ cười và những bài thơ 
tôi gọi đó là vườn thi sĩ
em gật đầu cười rất nhẹ:
“em sẽ ở cùng anh trong khu vườn đó”
và bàn tay tôi vừa chạm trái tim em

Virginia, Thanksgiving, November 28, 2014


4.
NGÀY TÔI TRỞ LẠI MIỀN ĐÔNG

ngày tôi trở lại miền đông
tôi mang theo một nụ hồng cao nguyên
 
vẫn là tôi, vẫn là em
vẫn khu vườn cũ, vẫn thềm nhà xưa
đi cùng tôi nhé, Cúc Hoa
trên con đường mịt mù mưa xứ người
và xin cảm tạ đất trời
đã cho em lại nụ cười hồn nhiên
đi cùng tôi, giọt sương đêm
nhẹ nhàng như nhạc và hiền như thơ
mơ cùng tôi nhé, Cúc Hoa
giấc mơ Đà Lạt thời chưa biết buồn
 
vẫn là tôi, vẫn là em
vẫn khu rừng lạnh tiếng chim gọi đàn
vẫn là mây trắng ngàn năm

Virginia, 17.3. 2013

Cúc Hoa, giấc mơ Đà Lạt thời chưa biết buồn
dinhcuong – Virginia, 17.3.2013

5.
CHIA TAY ĐÀ LẠT

và tôi lại chia tay Đà Lạt
trở lại quê người với những cơn bão tuyết mùa đông
tôi mang theo nỗi buồn xa xứ
và nỗi hoài hương nặng trĩu trong lòng
tôi lại thấy bóng tôi  bên dòng Potomac
bên bờ Đại Tây Dương nghe quê hương réo gọi trái tim mình
đi không phải là đi biệt xứ
thương quê nhà còn lại phía sau lưng
lại cùng em lang thang bên hồ Thạch Thảo
nói với em về một đoạn đời buồn
nói với em về những dòng sông lưu lạc
trôi về đâu rồi cũng muốn trở về nguồn

và tôi lại chia tay Đà Lạt
chia tay những con đường in dấu chân xưa
chia tay rừng thông và cỏ cây sương khói
chia tay mây trời và gió núi Langbiang
mong bình yên đến với Kim Huê (*)
và những người ở lại
mong một ngày về…
dù chưa biết khi nào…

Đà Lạt,  27.1. 2012
(*) Kim Huê, nhân vật  trong truyện Về Chốn Cũ

Hồ Xuân Hương, một sớm sương mù - Ảnh Phạm Cao Hoàng,  Đà Lạt, 2016


6.
ĐI CÙNG EM
GIA ĐÀ LT SƯƠNG MÙ

rồi có lúc trở về chốn cũ
đi cùng em giữa Đà Lạt sương mù
hát cùng em bài tình ca thuở ấy
tìm lại dấu chân mình trên những lối đi xưa

tìm lại mùi hương bên chiều Thủy Tạ
theo em về những hò hẹn ngày mưa
và thương nhớ một thời tuổi trẻ
chỉ có hoa hồng và chỉ có mộng mơ

tìm lại giọt sương trên đồi buổi sớm
bước cùng em trên ngọn cỏ hồng
và thương nhớ một thời lãng mạn
chỉ có tình yêu bát ngát mênh mông

rồi có lúc trở về chốn cũ
đi cùng em giữa Đà Lạt sương mù
quên đi một đoạn đời lận đận
quên đi những ngày khốn khó gian nan

Đà Lạt, 17.1. 2012


7.
THC CÙNG EM ĐÊM NAY

thức cùng em hết đêm nay
chia nhau hơi ấm chờ mai lên đường

là khi mình xa quê hương
ra đi cùng với nỗi buồn Việt Nam
là khi chia tay Lang Biang
chia tay những đám mây bàng bạc trôi
là khi từ biệt núi đồi
những con đường của một thời thanh xuân
là khi mắt lệ tần ngần
đứng bên con dốc Nhà Làng ngẩn ngơ
là khi sương đẫm mặt hồ
nơi còn dấu vết bài thơ ban đầu
là khi chân bước qua cầu
mắt còn nhìn lại phía sau quê nhà
là khi mình sẽ đi xa
sẽ phiêu giạt mãi như là mây bay

thức cùng em hết đêm nay
chia tay Đà Lạt rồi mai lên đường

Đà Lạt, 25.11.1999


8.
NGƯỜI THI SĨ Y
KHÔNG CÒN LÀM THƠ

mười năm và mười mùa đông
trong hơi thở có hương nồng em trao
có tình em rất ngọt ngào
trong  veo như giọt sương đèo Prenn
nồng nàn như đêm Lâm Viên
như  Đà Lạt với lời nguyền năm xưa
tôi và em vẫn đi về
trên con đường có nhiều hoa dã quỳ
có hò hẹn thuở tình si
có gian nan có nhiều khi rất buồn

mười năm và mười mùa đông
người thi sĩ ấy không còn làm thơ
còn chăng là tiếng ngựa thồ
thở khi lên dốc bụi mờ mịt bay
còn chăng là hai bàn tay
đã chai sạm với tháng ngày gian nan
còn chăng là mây lang thang
trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông
còn chăng là đêm mênh mông
người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi

Đà Lạt, 1985

Chân dung Phạm Cao Hoàng - Photo by Lê Chỉnh – Đà Lạt, 1982


9.
GI EM, ĐÀ LT

sáng nay
mưa đã về
rừng thông xao xuyến khách phương xa
hỡi cô em Đà Lạt
về đâu ?
tôi muốn theo về
với người

mưa cho đôi má em hồng
mưa cho đôi mắt em buồn
mưa bay qua cõi vô cùng
và tôi bay giữa mênh mông

mưa âm vang
suốt bên đời
mưa lang thang
mấy phương trời
mưa qua
như dáng thu người
đời vui thêm tiếng em cười

sáng nay
mưa đã về
vườn tôi
hoa nở đóa tương tư
xin gửi em, và Đà Lạt
bài thơ
tôi viết
khi về
với người

Đà Lạt, 1974


10.
NH CÚC HOA

đất anh ở và rừng anh thở
sáng anh đi chiều lại trở về
rừng vi vút những đêm gió thổi
bóng anh chìm với bóng hư vô

đôi khi đứng bên triền đá dựng
anh hoang mang sợ núi đè mình
có khi thấy con chồn con cáo
anh giật lùi lòng thoáng hãi kinh

anh đi qua rừng cao quá đỗi
anh đi về rừng quá đỗi cao
anh thu mình như con sâu nhỏ
nằm rung rinh giữa đám lá rì rào

và buồn thảm ôi những chiều lặng lẽ
núi và anh thành hai kẻ đăm chiêu
núi ngó anh và anh ngó núi
núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu

đất anh ở và rừng anh thở
quá lâu ngày nên thấy hoang mang
anh sống dở và anh chết dở
giữa núi rừng cao ngất ngàn năm
Đà Lạt, 1974


Cúc Hoa – Photo by Phạm Cao Hoàng – Đà Lạt, 1974