Friday, April 19, 2019

1084. CHUYẾN BAY CỦA NGƯỜI ĐẸP NGỦ SAY  Truyện ngắn của nhà văn người Colombia, giải Nobel văn học 1982 GABRIEL GARCIA MARQUEZ (1928-2014) Bản dịch của THÂN TRỌNG SƠN

Photo courtesy of Air France

Nàng xinh đẹp, dong dỏng cao, làn da mịn màu bánh mì, đôi mắt xanh màu hạnh đào, mái tóc mướt đen, xoã đến  lưng, toát ra mùi hương như là từ xứ Indonesia hay vùng núi Andes xa xôi tới. Nàng ăn mặc kiểu tinh tế: áo khoác ngoài bằng lông linh miêu, áo cánh bằng lụa thô in những bông hoa trang nhã, quần dạ mộc thô, giày đế phẳng,  màu hoa giấy. “ Đây là người phụ nữ xinh đẹp nhất ta chưa từng thấy trong đời”, tôi nghĩ thầm khi thấy nàng sải những bước đi êm ru như dáng sư tử cái, trong khi tôi đứng xếp hàng chờ đáp máy bay đi New York tại phi trường Charles de Gaule, Paris. Nàng xuất hiện lạ lùng trong thoáng chốc rồi tan biến vào đám đông trong phòng chờ.

Lúc này là chín giờ sáng. Trời đổ tuyết từ đêm hôm trước, sự lưu thông trở nên khó khăn hơn lệ thường trên các đường phố, và chậm hơn trên các xa lộ. Nhiều xe tải đỗ bên vệ đường, các xe khác toả hơi nóng trong tuyết. Ngược lại, trong các phòng chờ ở phi trường, cuộc sống vẫn tiếp tục như đang tiết xuân.

Tôi đang đứng xếp hàng tại quầy làm thủ tục, sau một bà Hà Lan lớn tuổi đang tranh cãi gần cả tiếng đồng hồ về trọng lượng mười một chiếc va li của bà. Tôi bắt đầu cảm thấy nản thì bỗng nhận ra sự xuất hiện thoáng qua khiến tôi bàng hoàng, không rõ cuộc xung đột chấm dứt khi nào. Cô nhân viên kéo tôi xuống mặt đất với lời trách tôi lơ đãng. Thay lời xin lỗi, tôi hỏi cô có tin vào tình yêu từ cái nhìn đầu tiên không. “ Dĩ nhiên là tin, cái đó mới là chân thực!”. Mắt vẫn nhìn vào màn hình máy vi tính, cô hỏi tôi muốn ngồi ở nơi được hút thuốc hay không hút thuốc.
  Với tôi chuyện đó chẳng quan trọng gì ”, tôi cố ý nói, “ miễn là không  phải ngồi cạnh mười một chiếc va li.”
Cô cảm ơn tôi với nụ cười chuyên nghiệp nhưng tia nhìn vẫn không rời khỏi màn hình bóng sáng.

“ Ông hãy chọn một con số, cô bảo tôi. Ba, bốn hoặc bảy.”
“ Bốn.”
Nụ cười của cô ánh lên vẻ chiến thắng.
“ Trong suốt mười lăm nay tôi làm ở đây, ông là người đầu tiên không chọn số bảy.”

Cô ghi số ghế vào thẻ lên tàu và đưa cho tôi với tất cả giấy tờ liên quan, rồi nhìn tôi lần đầu tiên với đôi mắt nâu vàng, một điều an ủi cho tôi, cho đến khi tôi lại thấy người đẹp đi ngang qua. Cũng ngay lúc đó, cô nhân viên thông báo cho tôi rằng phi trường vừa đóng cửa và mọi chuyến bay đều bị hoãn.

“ Hoãn đến lúc nào?”
“ Trời mới biết được”, cô tươi cười nói.” Sáng nay đài phát thanh thông báo đang có trận bão tuyết lớn nhất trong năm.”

Cô ấy đã lầm: Đây là trận bão tuyết lớn nhất thế kỷ. Nhưng trong phòng đợi vé hạng nhất, mùa xuân chừng như vẫn có thực, hoa tươi cắm đầy các lọ, âm nhạc vẫn tuyệt diệu và êm ái, đúng như ý của những người sáng tạo ra nó. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy đây là nơi trú ẩn lý tưởng cho người đẹp của tôi, và tôi tìm nàng ở các phòng đợi khác, bối rối về sự táo bạo của mình. Nhưng phần đông ở đấy chỉ là những người đàn ông trong đời thực, đang đọc báo tiếng Anh, trong khi các bà vợ của họ đang mơ tưởng về những người đàn ông khác, qua khung cửa kính lớn, đưa mắt nhìn những chiếc máy bay chết dí trong tuyết, những nhà xưởng băng tuyết, những công trình to lớn của phi trường Roissy bị bầy sư tử tàn phá. Quá nửa trưa, không còn chỗ để ngồi và cái nóng trở nên oi nồng không chịu nổi, tôi thoát ra ngoài tìm chút không khí thở.

Bên ngoài, tôi thấy một cảnh tượng kinh khiếp.  Đủ mọi hạng người bỏ ra khỏi phòng đợi đến chôn chân nơi các hành lang biến thành lò sấy, nằm ngổn ngang nơi cầu thang, dưới đất với các thú vật, con cái, đồ đoàn. Bởi lúc này, mọi liên lạc với thành phố bị cắt đứt và toà nhà bằng chất nhựa trong trông giống một buồng du hành không gian bị vây hãm trong bão tố. Tôi không thể ngăn được ý nghĩ rằng người đẹp hẳn sẽ ở đâu đó giữa bầy đàn yên tĩnh kia, hình ảnh đó khiến tôi thêm kiên nhẫn để chờ đợi.

Đến giờ ăn trưa, chúng tôi ý thức được thân phận kẻ đắm tàu của mình. Mọi người xếp thành hàng dài vô tận trước bảy nhà hàng ăn, các quán bán thức ăn tự phục vụ, các quầy rượu bị tấn công, và chỉ ba tiếng sau, tất cả các nơi này phải đóng cửa vì không còn gì để ăn để uống cả. Trẻ em, có lúc tưởng chừng như bao nhiêu trẻ em trên thế giới đều tụ họp ở đây, bắt đầu khóc lên đồng loạt, và mùi bầy thú bốc lên từ đám đông. Đây là thời khắc của bản năng. Mọi người tranh giành nhau, và tôi chỉ có thể có được hai cốc kem cuối cùng trong một cửa hàng dành cho trẻ em. Tôi đứng ăn chậm rãi ở quầy, trong khi mấy người phục vụ hễ có khách rời đi là lấy ghế đặt ngược lên bàn, tôi tự ngắm mình trong gương, tay cầm cốc kem nhỏ cuối cùng, miệng ngậm muỗng kem nhỏ cuối cùng, và tơ tưởng đến người đẹp.

Chuyến bay đến New York, được dự tính khởi hành lúc mười một giờ sáng, đã rời đi lúc tám giờ tối. Đến lúc cuối cùng tôi lên tàu, các hành khách hạng nhất đã vào ngồi ghế và cô tiếp viên dẫn tôi đến tận chỗ ngồi. Tôi thấy khó thở.

Sát chỗ ngồi của tôi, cạnh cửa sổ, người đẹp chiếm hữu không gian của mình với sự tự tin của một hành khách có kinh nghiệm. “ Nếu có ngày tôi có viết lại câu chuyện này thì cũng chẳng ai tin,” tôi nghĩ vậy. Và tôi cố ấp úng thốt ra một lời chào ngập ngừng mà nàng như không hề nghe.

Nàng an toạ, kiểu như sẽ ngồi đó hàng năm trời, xếp đặt mỗi vật vào đúng vị trí, đúng trật tự, cho đến khi chỗ nàng ngồi được sắp xếp giống như ở nhà, nơi mọi vật có ngay trong tầm tay. Trong khi nàng loay hoay như thế, một tiếp viên mang đến cho chúng tôi cốc sâm banh chào mừng. Tôi cầm một cốc mời nàng, nhưng cũng cố chờ đúng lúc. Vì nàng chỉ nhận một ly nước và, trước hết bằng một thứ tiếng Pháp khó nghe hiểu, rồi sau đó bằng một thứ tiếng Anh chỉ tạm được hơn một chút, nàng yêu cầu tiếp viên đừng đánh thức trong suốt chuyến bay dù với bất cứ lý do nào. Giọng nàng trang trọng, ấm áp xen lẩn nét buồn Đông phương.

Khi tiếp viên mang ly nước lại, nàng đặt trên đầu gối túi đồ dùng du lịch với bốn góc viền đồng, như kiểu rương nhỏ của các cụ bà, lấy hai viên thuốc màu vàng từ một cái túi đựng những viên thuốc đủ màu. Mỗi một động tác của nàng đều chuẩn mực, từ tốn, như thể từ lúc nàng mới sinh ra chẳng có điều gì bất ngờ xảy ra với nàng hết. Cuối cùng, nàng kéo tấm màn che cửa sổ xuống, hạ thấp lưng ghế ngồi, trùm chăn đến nửa người mà không cởi giày, mang chiếc mặt nạ ngủ, quay lưng về phía tôi, rồi ngủ một mạch, không một tiếng thở dài, không hề thay đổi tư thế, trong suốt tám tiếng đồng hồ đằng đẵng cộng thêm mười hai phút nữa, là thời gian chuyến bay đến New York.

Thật là một chuyến bay đầy cảm xúc. Tôi vẫn tin rằng trong thiên nhiên không có vẻ đẹp nào lớn lao hơn vẻ đẹp phụ nữ, đến mức tôi chẳng thể nào thoát khỏi, dù chỉ trong khoảnh khắc, hình ảnh thanh thoát của người đẹp cổ tích đang say giấc nồng bên cạnh tôi đây. Sau khi máy bay cất cánh, người tiếp viên nam biến đi ngay, một cô khác khéo léo hơn đến cố đánh thức nàng để đưa cho nàng hộp đựng đồ trang điểm và cặp tai nghe để nghe nhạc. Tôi nhắc lại cho cô lời dặn của nàng đã nói với anh tiếp viên lúc nãy, nhưng cô muốn nghe từ chính người đẹp rằng nàng cũng không muốn dùng món xúp. Anh chàng tiếp viên phải xác nhận điều đó, lại trách tôi bởi vì người đẹp không đeo ở cổ tấm bảng “ xin đừng đánh thức”.

Tôi ăn món xúp trong đơn độc, nghĩ tới những điều sẽ phải nói với nàng khi nàng thức giấc. Giấc ngủ của nàng thật sâu, đến độ tôi lo lắng nghĩ rằng những viên thuốc nàng uống không phải để ngủ mà để tự tử. Cứ uống một ngụm, tôi lại nâng ly chúc mừng:
“ Chúc sức khoẻ người đẹp!”

Khi xong món xúp, đèn mờ đi, một bộ phim được chiếu lên, chẳng biết để ai xem, và hai chúng tôi chìm trong cõi tối tăm mịt mù của thế giới.

Cơn bão tuyết lớn nhất thế kỷ đã qua đi, đêm trên Đại Tây Dương thật mênh mông trong vắt, và chiếc máy bay chừng như bất động giữa trời sao. Tôi ngắm nhìn nàng, từng li, từng li một, trong nhiều giờ liền, và những dấu hiệu sự sống duy nhất tôi nhận thấy được là những bóng dáng của những giấc mơ thoáng qua trên vầng trán nàng, như những áng mây thoáng qua mặt nước. Nàng đeo ở cổ một sợi dây chuyền thật mỏng manh đến độ tưởng như không nhìn thấy được trên làn da vàng óng ả, đôi tai hoàn hảo không có vết đeo bông tai, móng tay hồng hào dấu hiệu sức khoẻ tốt, bàn tay trái đeo nhẫn.

Bởi nàng có vẻ chưa quá tuổi đôi mươi, tôi tự trấn an mình bằng ý nghĩ rằng đó không phải là nhẫn cưới, mà chỉ là chiếc nhẫn bình thường của một đính ước phù du. “ Biết em đang thiếp ngủ, thanh thản, tinh khôi, tin cậy, thật gần gũi trong vòng tay gắn bó của ta “, tôi nghĩ trên đầu bọt sóng sâm banh, ngân nga câu thơ thần kỳ của Gerardo Diego (1). Sau đó, tôi hạ thấp lưng ghế ngang tầm bằng ghế nàng, chúng tôi nằm duỗi bên nhau, sát gần nhau hơn là trên chiếc giường tân hôn.

Hơi thở của nàng ấm áp như giọng nói, và làn da toát ra hương vị tinh tế dịu dàng không khác hương thơm tự nhiên của nhan sắc. Chuyện thật khó tin: mùa xuân năm rồi, tôi vừa đọc một tiểu thuyết tuyệt vời của Yasunari Kawabata (2) viết về các bậc trưởng giả lớn tuổi ở Kyotok đã phải chi ra một khoản tiền rất lớn để trải qua một đêm dài chiêm ngưỡng những thiếu nữ đẹp nhất thành phố, khoả thân và đang chịu tác dụng của liều thuốc an thần, trong khi các vị này mê đắm trên cùng chiếc giường. Họ không được phép đánh thức các thiếu nữ dậy hay đụng chạm các nàng, mà thực sự họ cũng không hề có ý định đó , bởi điều tinh khiết nhất trong lạc thú của các vị này là được ngắm các nàng say sưa giấc nồng. Đêm đó, khi thức nhìn người đẹp ngủ, tôi không chỉ hiểu được sự tinh tế của người trải đời, mà còn hơn thế, tôi đã sống với nó trọn vẹn.

“ Ai có thể nghĩ được rằng”, tôi tự nhủ, “ với lòng tự ái được men rượu làm hưng phấn lên, tôi có ngày đã thay đổi thành một lão gia Nhật Bản? “

Có thể tôi đã ngủ nhiều giờ, do ngấm men sâm banh và ánh chớp câm lặng của cuốn phim đang chiếu, khi thức giấc, đầu tôi nhức như búa bổ. Tôi đi vào phòng vệ sinh. Sau chỗ tôi ngồi hai hàng ghế, bà già với mười một chiếc va- li đang nằm, bốn vó đưa lên cao. Bà giống như một tử thi phơi thây nơi chiến địa. Đôi kính lão của bà với vòng dây bằng hạt cườm nhiều màu rơi vãi dưới sàn, ngay giữa lối đi. Trong một lúc tôi cảm thấy niềm vui ranh mãnh là lờ đi, không nhặt lên cho bà.

Sau khi cố thoát khỏi ảnh hưởng của rượu, tôi nhìn mình trong gương, thật xấu xí, đáng chê, và ngạc nhiên nhận ra sự tàn phá của tình yêu lại khủng khiếp đến thế. Bỗng nhiên, máy bay mất độ cao, hết sức gượng dậy rồi lại phóng về phía trước. Dấu hiệu trở về chỗ ngồi được bật sáng. Tôi nhanh chân bước ra, với hy vọng là những cơn cuồng đảo của trời đất vừa qua đã đánh thức nàng dậy, và nàng sẽ hoảng hốt tìm nơi trú ẩn trong vòng tay của tôi. Trong lúc vội vàng, tôi suýt dẫm lên đôi kính của bà già, điều có lẽ chẳng làm tôi phật lòng. Nhưng tôi đã quay bước, nhặt đôi kính lên, và đặt lên đầu gối bà già, như để cám ơn bà đã không chọn ghế số bốn trước khi tôi chọn.

Giấc ngủ của người đẹp thật triền miên. Khi máy bay ổn định lại, tôi cố cưỡng lại sự cám dỗ muốn lay nàng dậy với một lý do nào đó, bởi vì tôi chỉ muốn một điều vào giờ bay cuối cùng này, là được thấy nàng thức giấc, dù nàng giận dữ, hầu có thể tìm lại được sự tự do và có lẽ cả tuổi trẻ của tôi. Thế nhưng, tôi không thể làm điều đó. “ Quỉ thật, tôi khinh miệt tự nhủ, sao mình không sinh ra dưới dấu hiệu Kim Ngưu! “ Nàng tự thức giấc đúng vào lúc các biển báo chiếu sáng được bật lên, nàng thật xinh đẹp, thật tươi tắn như đã trải qua một giấc ngủ êm đềm trên chiếc giường hoa.

Lúc này, tôi nhận ra rằng, trên máy bay, những hành khách ngồi cạnh nhau, như những đôi vợ chồng già, không chào hỏi nhau khi thức giấc. Nàng không phải là ngoại lệ. Nàng gỡ mặt nạ ra, mở đôi mắt rạng rỡ, nâng lưng ghế tựa, dẹp chăn đắp qua một bên, lắc nhẹ cho mái tóc duỗi ra tự nhiên, đặt hộp trang điểm trên gối và sửa soạn với vài động tác lẹ làng và có vẻ thừa thãi để khỏi nhìn tôi, trong khi chờ cửa mở. Sau đó nàng khoác chiếc áo veste lông linh miêu, gần như vượt qua tôi với lời xin lỗi ước lệ bằng tiếng Tây Ban Nha châu Mỹ, rồi ra đi mà không một lời từ giã, không cả lời cám ơn tôi về những gì tôi đã làm để chúng tôi có được một đêm hạnh phúc, và biến đi mất tăm mãi cho đến ngày hôm nay trong thành phố New York như rừng rậm này.

Tháng sáu 1982.
  
____________________ 

Chú thích của người dịch:

(1)      Gerardo Diego Cendoya, nhà thơ Tây Ban Nha, 1896-1987.
(2) Yasunari Kawabata, nhà văn Nhật Bản, 1899-1972. Giải Nobel văn học 1968. Cuốn tiểu thuyết được nhắc đến ở đây là “ Ngôi nhà những người đẹp ngủ say “, xuất bản năm 1961, bản tiếng Anh dịch là “ the House of the Sleeping Beauties “ . Tác giả Gabriel Garcia Marquez xem đây là một kiệt tác của văn chương đương đại.
  
THÂN TRỌNG SƠN 
Tháng 4.5019
dịch theo bản tiếng Pháp của Anne Morvan
( Douze contes vagabonds - nxb Grasset, 1993, trang 52-58 ).

1083. PHẠM CAO HOÀNG Mỗi người chia nhau một chút khổ (Truyện ngắn)

Sài Gòn xưa: nhà thờ Đức Bà - Nguồn ảnh: thaolqd.blogspot.com


1.

Nhng ngày đu tháng 5.1975  Sài Gòn lên cơn st thuc tây và xe đp. Thiên h đ xô đi mua thuc tây và xe đp vì có tin đn rng tin min nam s không còn giá tr và hai mt hàng này s tr nên khan hiếm trong nhng ngày sp ti. Giá thuc tây và xe đp tăng vùn vt nhưng người mua vn c tranh nhau mua.

Trong gia đình tôi, anh By vn là người nhy bén vi nhng biến đng kinh tế theo kiu này nên ngay t lúc bt đu cơn st anh mua mt chiếc xe đp do Nht sn xut, sau đó  anh tìm mua các loi thuc tây thường dùng.

Sáng hôm y, anh By tiếp tc đi mua thuc tây rt sm. nhà chng biết làm gì, tôi lang thang ra ch đường Lê Văn Duyt tìm mt quán cóc đ ung mt ly cà phê sáng. Khi đi ngang qua tim thuc tây, tôi thoáng thy anh By  trong đó. 

Tôi bước vào tim thuc tây.
-  Xong chưa?  Đi ung cà phê vi em.

Anh By quay li, thay vì tr li tôi, anh nhìn ra ngoài đường, mt biến sc, ht hong, lp bp:
-  Chiếc xe đp. Chiếc xe đp mi mua. Đa nào ly ri. Anh mi va bước vào đây thôi mà.

Cnh tim thuc tây có mt con hm nh. Tôi phn ng rt nhanh:
-  Chc nó đi chưa xa. Em đui theo con hm này, còn anh đui theo hướng đường Lê Văn Duyt.

Nói xong, tôi ch
y vào con hm. Chưa bao gi tôi chy nhanh như ba đó. C lao v phía trước. Không thy gì c. Được khong 200 mét thì thm mt. Tôi bt đu gim tc đ, chy chm hơn. Va lúc y mt bé trai khong hơn 10 tui, dáng v lanh li, đang đng trước cng nhà, hi:
-  Có chuyn gì vy chú?

Tôi dng li:
-  Cháu có thy ai đi mt chiếc xe đp mi ngang qua đây không?
-   Xe màu gì vy chú?
-   Màu đ.

Đôi mt cu bé sáng lên:
-  Có. Cháu thy thng Tho va đi chiếc xe đp màu đ ngang qua đây.

Tôi thoáng thy mt tia hy vng:
-  Cháu này. Hi nào ti gi thng Tho có xe đp không?
-  Không đâu chú. Nó  thường chơi vi bn cháu, cháu biết rõ mà. Nó làm gì có xe đp.
-  Cháu biết nhà nó đâu không?
-  Biết ch chú, gn đường xe la phía sau ga Hòa Hưng.
-  Cháu có th đưa chú đến nhà thng Tho không?
-  Được mà chú. Cháu s đưa chú đến nhà thng Tho.

Trên đường đi, tôi hi:
-  Cháu tên gì?
-  Cháu tên Thng.
-  Cháu hc lp my?
-  Cháu hc lp năm.
-  Thng Tho hc lp my?
-  Nó ln hơn cháu hai tui nhưng ngh hc lâu ri. Nhà nó nghèo lm. Cha nó đi lính chết trn. Nó phi ngh hc theo m đi lượm ve chai đ bán.
Trước gi nó có thường ăn cp không?
Không đâu chú. Nó chơi thân vi cháu, cháu biết rõ mà. Nó rt đàng hoàng. Chú này, lát na ti nhà thng Tho chú đng vào. M nó s đánh nó nếu biết nó ăn cp. Cháu s vào gi nó ra gp chú.

Thng đưa tôi đi tht xa, dc theo đường ry xe la, ri ch vào mt căn nhà nh ti tàn, cũ k, mái tôn, vách ván.
-  Nhà thng Tho đó chú. Chú đng né vào ch lùm cây kia ch cháu.

Mt lát sau Thng tr ra, chy nhanh đến ch tôi.
     -  Nó không có nhà. M nó nói nó đi t sáng sm đến gi chưa v.
     -  Ti nay chú tr li ch này, cháu c gng tìm thng Tho đ chú gp. Được không?
     -  Thôi chú. Biết gi nào nó mi v. Chú c đ đó cháu tìm nó ri đưa nó lên phường gp chú. Cháu biết chú là “cách mng đang làm trên phường” .

Câu nói ca Thng làm tôi ng ra vì bt ng. Tôi là giáo chc trong chính quyn cũ, t min trung di tn vào đây, có biết tr s phường nm ch nào đâu, bng dưng cu bé này li gi tôi là “cách mng đang làm trên phường”.

Tôi hi Thng:
-  Sao cháu biết chú là “cách mng đang làm trên phường”?
-  Chiu hôm qua cháu theo my thng bn chơi đá banh trên phường. Cháu thy chú trong đó.

Như vy là Thng đã lm tôi vi mt người nào đó trên phường. Tuy nhiên, tôi không gii thích.
-  Thng này, nếu cháu tìm được thng Tho, cháu đng đưa nó lên phường, mà đưa nó đến nhà chú vào bui ti. Được không?
Phi đưa nó lên phường nó mi s chú ơi!
Đng cháu. Đng làm nó s. C đưa nó đến nhà chú là được ri. Nhà chú cũng gn đây thôi.

Tôi đưa Thng đa ch ch tôi và my anh em trong gia đình đang nh và hi Thng:
-  Cháu biết đa ch này không?
-  Biết ch chú. D mà. Trong xóm này, hm nào cháu cũng biết mà.


2.

V nhà, tôi k li mi chuyn cho my ông anh nghe. Nghe chuyn tôi là “cách mng đang làm trên phường” anh Năm cười ngt ngho:
-  Có khi như vy cũng hay. Đ đó xem sao.

Anh By bàn vi tôi s đi mua mt chiếc xe đp khác. Xem như chiếc kia đã mt. Không mua, vài hôm na s chng còn xe đ mua. Chưa chc thng Tho ăn cp chiếc xe đó, và nếu nó ăn cp thì chuyn ly li chiếc xe cũng không phi là d dàng.

Ngay sáng hôm sau, anh By xung các ca hàng bán xe đp đ mua xe như đã bàn. Tuy nhiên, d tính bt thành vì giá xe đp tăng ngt ngưởng; s tin ít i còn li trong túi anh By không đ đ mua chiếc th hai.

Bui ti, tri rt nóng. Tôi và anh By đang ngi trước hiên nhà bàn công chuyn cho ngày mai bng nhiên có hai cu bé dng trước cng nhà, ngn ng mt chút ri bước vào.

Tri hơi ti, chưa kp nhn ra hai cu bé này là ai thì mt trong hai đa nói ln:
-  Cháu đưa thng Tho đến gp chú.  Nó  ly  chiếc  xe ca chú đó chú ơi.

Thì ra là Thng. Khi đưa đa ch nhà cho Thng, tôi cũng đưa theo kiu cu may, không nghĩ Thng s đến.

Tôi bước ra, nói vi Thng:
-  Cháu gii tht. Cám ơn cháu rt nhiu.

Đ cho Tho không s, tôi đến v vai nó:
-  Cháu vào đây chơi, nói chuyn vi chú.

Tôi đưa hai đa vào hiên nhà, ngi trên bc tam cp. Tho có khuôn mt hơi khc kh, tóc khô, nước da ngăm đen. Tôi chưa kp nói gì thì Thng li lên tiếng:
-  Cháu tìm được nó chiu nay ngoài ch Hòa Hưng. Cháu nói chú là “cách mng đang làm trên phường” nên nó s lm.

Anh Năm t trong nhà nói vng ra:
-  Đem nht nó li.

Nghe vy, Tho khóc rng lên:
-  Cháu s lm. Đng nht cháu.

Anh Năm là sĩ quan trong quân đi miền nam va tan hàng, chưa biết s b người ta nht lúc nào. Tôi nói đùa:
-  Không nht thng Tho. Nht anh thì có.

Tho tht thà:
-  Thit h chú? Không nht cháu h chú?

Nãy gi anh By ngi im nhưng mng ra mt. Anh d Tho:
-  Cháu đ chiếc xe đp đâu? Cháu đng s. S không nht
cháu đâu.
Thng chen vào:
-  Nó bán cho ông Bn th mc ri.
-  Tin bán xe cháu đ đâu?
-  Cháu đã ly mt ít đ mua thuc và đ ăn cho m cháu. Gn mt tun nay bán ve chai không ai mua, nhà chng còn tin, m cháu li b đau…

Nói xong, nó ly mt gói nh gói bng giy t trong túi qun soc đưa cho tôi:
-  Tin vn còn đây. Xin chú tha ti cho cháu.

Tôi đưa gói tin cho anh By đếm.  Đếm xong, anh By có v không vui.  Anh nói vi Tho:
-  Chú mun mua li chiếc xe đp này. Cháu dn chú đi gp ông Bn th mc được không?

Tho có v do d:
-  Cháu không có tin đ tr li ông Bn. Chú ơi, cháu không dám gp ông Bn đâu.
-  Cháu dn chú ti đó, còn mi vic c đ chú thương lượng.
-  My chú không nht cháu thì biu cháu làm gì cháu cũng làm. Gi này chc ông Bn đã đi ng.
-  Sáng mai đi được không?
-  D được.

Thng và Tho chào ri ra v. Tôi đi vi hai cu bé mt đon, va đi va hi Tho:
Chú trông cháu cũng là người đàng hoàng, sao li ăn cp xe đp?
-  Gn mt tun nay ve chai lượm bao nhiêu cũng có nhưng bán chng ai mua. M cháu li b đau, nhà hết tin, cháu làm liu kiếm tin mua thc ăn và mua thuc cho m cháu.
-  Cháu t làm chuyn này hay có ai bày không?
-  Thng Toán cùng xóm bày cháu. Thng này rt gii chuyn ăn cp. Nó nói theo kinh nghim ca nó, sau khi dng xe đp, người ta đi thng vào trong tim, ít khi quay lưng nhìn li.  Do vy, mình canh sn, h va quay lưng là mình chp tht nhanh và chy đi ngay. Cháu làm theo li thng Toán bày.
-   Cháu có biết là ăn cp thì s b tù không?
-  Cháu không biết, nhưng m cháu thường nói vi cháu ăn cp là không tt, mai mt chết xung s b trng pht. Cháu đi lượm ve chai vi m, thy đ đc người ta đ quanh nhà nhưng không bao gi cháu ly. Chú ơi, chú tha ti cho cháu. Cháu l ln này thôi.
-  Chú s chng làm gì cháu đâu. Chú cũng không phi là “cách mng đang làm trên phường đâu”.

Tôi quay sang Thng:
-  Chc Thng lm chú vi người nào trên phường.

Thng cười bn ln:
-  Vy mà cháu c tưởng …. Làm thng Tho hết hn.

Tôi hi Tho:
-  Nghe nói m cháu b đau. Mai cho chú ghé thăm m, ri hn đến gp ông Bn th mc. Được không?

Tho lc đu quy quy:
-  Không được đâu chú ơi. L chú nói vi m chuyn cháu làm by, m s đánh cháu.
Chú s không nói gì hết. Ch thăm m thôi.
Thôi chú. Cháu s lm.

Tôi ly mt ít tin l dúi vào tay Thng:
-  Cho cháu cái này. Cháu mua cái gì cho Tho cùng ăn. Chc nó đang đói. Mai hai đa nh đến, đưa chú đi gp ông Bn th mc.

Thng thích chí:
-  Đúng đó chú. Chiu đến gi thng Tho chưa ăn gì. Cháu s mua bánh mì pa-tê. Mai ti cháu s đến sm.

Tôi quay v, nói vi anh By:
-  Có thiếu chút ít nhưng dù sao nó cũng tr tin li ri. Đi tìm ông Bn th mc làm gì cho mt công?

Anh By lt qua lt li gói tin Tho đưa, cười bun:
-  Hi nãy chưa kp nói vi chú. Đã nghèo còn gp cái eo. Tin thng Tho đưa ch hơn na s tin anh b ra đ mua chiếc xe đp.  Chc nó bán r. R người ta mi mua. Bây gi ch còn cách tìm người mua đ ly li chiếc xe đp.


3.

Sáng sm, va m ca, Thng và Tho đã ngi sn trước hiên nhà.
-  Các cháu đến sm vy?

Thng nhanh nhu:
-  Thng Tho nói vi cháu nó rt hi hn. Nó mun đưa chú đến gp ông Bn th mc ngay đ ly li chiếc xe. Đêm qua nó ch mong tri sáng đ sang gp chú.
-  Ch chú mt chút. Chú vào thay qun áo ri đi.

Anh By và tôi theo hai cu bé đi lòng vòng qua nhiu đường hm phía ga xe la Hòa Hưng. Mt hơn 20 phút đi b mi đến nhà ông Bn th mc. Căn nhà không đến ni ti tàn như nhà thng Tho nhưng nhìn vào có th nhn ra ngay nhà ca dân nghèo.

Bn th mc trc 40 tui, người hơi thp, tóc ct ngn, khuôn mt trông có v tht thà. Đc bit, đôi chân ca ông hơi khp khing. Thy chúng tôi đi vi Tho và Thng, có l ông đoán được chúng tôi là ai. Ông bước ra, mt hơi ngượng ngùng, mi chúng tôi vào. Thng và Tho cũng vào theo.

Bước vào nhà, tôi thy mt bé trai và mt bé gái khong hơn 10 tui, nước da tái, tóc tai bù xù,  đang ngi ăn cháo vi cá khô. Ngh ông là th mc, nhưng nhìn quanh nhà không thy bàn, t, hay đ đc gì đáng giá. Tôi có ý quan sát đ xem ông đ chiếc xe đp đâu nhưng không thy.

Anh By làm ra v thân thin:
-  Chào anh Bn. Ch đâu ri? Sao không ăn sáng vi my cháu?
-  Bà y bnh và qua đi cách đây hai năm. Tôi gà trng nuôi con.
-  Anh làm ngh th mc lâu chưa?
-  Hơn 10 năm.
-  Trước anh cũng trong quân đi?
-  Không. Chân tôi b tt nên được min dch vì lý do sc khe. T khi m cháu qua đi đến gi, mt mình nuôi con, cc kh quá, có gì không phi my anh b qua cho.

Tôi trn an:
-  Không có gì đâu anh Bn. Tho nói nó bán chiếc xe đp cho anh?

Bn th mc gt đu:
-  Nó bán cho tôi trưa hôm qua. Nó đi ngang nhà, hi tôi có mun mua xe không, nó bán.
-  Anh có biết đó là đ ăn cp không?
-  Tht tình tôi không biết. Tôi thit thà, ai nói gì cũng tin. Nó nói đó là xe ca nó thì tôi tin là ca nó nhưng khi thy các anh đến đây tôi mi hiu ra.
-  Sao anh không mua xe ngoài tim, có hóa đơn, có ngun gc đàng hoàng?

Bn th mc th dài:
-  Ba trước tôi có tính mua ngoài tim nhưng không đ tin.

Anh By đng dy, nhìn quanh, ri nói:
-  Anh Bn này. Thng Tho đã đưa tin bán xe cho tôi, bây gi tôi tr li anh, anh cho tôi ly li chiếc xe đp.

Nói xong, anh By đ gói tin trên bàn.

Bn th mc ngi im mt mt lúc, khuôn mt thn th.
-  Tôi bán li cho người khác ri.

Anh By không tin:
-  Mi trưa hôm qua anh mua ca thng Tho, bây gi anh nói anh bán cho người khác ri. Sao mà nhanh vy?

Bn th mc chùng ging:
-  Thy r thì ham và mua. Mua xong thy kham không ni. Gn mt tun nay không đi làm vì chng ai thuê. Nhà hết go, hết đ ăn. Vn liếng ch có chng đó. Chiu hôm qua phi bán li cho mt người qua đường, cũng bng giá tin đã tr cho thng Tho, không li l gì. Tôi tht có li vi các anh.

Anh By quay sang nhìn tôi, l v tht vng. Tôi nhìn Bn th mc. Khuôn mt chơn cht hin hu thoáng có chút s hãi ca ông trông tht ti nghip. Hai đa nh va ăn cháo xong, đang dn chén bát mang ra ngoài sân ra. Tho đng khép nép trong góc phòng. Thng đng bên cnh, cm bàn tay Tho.

Tôi nói vi anh By:
-  Thôi anh By. Tiếc làm gì? Đáng l mình đã chết trong chiến tranh, bây gi vn còn sng là may lm ri. Còn người còn ca mà. Anh Bn đây thì nghèo, mình cũng kh, mà m thng Tho  cũng cơ cc. Thôi thì mi người chia nhau mt chút kh trong lúc khó khăn này./.

PHẠM CAO HOÀNG
1975