Sunday, May 16, 2021

2024. ĐẶNG TIẾN Ba bài thơ




CÙNG NGUYỄN CÔNG TRỨ

Sau giờ đọc văn "Bài ca ngất ngưởng"


Ngày ông nhận quyết định hưu quan,

Hình như cả kinh đô bàng hoàng,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng…

Làm quan chán, ông muốn làm trẻ con,

Cưỡi bò thung thăng bờ đê lộng gió.

Dân gian ngờ ông vẫn còn ấm ức,

Bịa chuyện mo nang che miệng thế gian cười.

Tôi không bao giờ tin Nguyễn Công Trứ lại tầm thường đến thế!

Nghe nói miền Kim Sơn, Tiền Hải dân dựng đền thờ ông khi ông còn sống,

Ông không màng,

Ông không chiêu dân lập ấp khẩn hoang,

Thì sẽ có người khác,

Nước Nam mình thời nào cũng có người tài.

Cần gì đền miếu!

Ông về quê.

Hồng Lĩnh phau phau mây trắng,

Lam Giang biêng biếc dòng xanh,

Nhưng không lên núi một mình,

Dắt díu theo toàn gái đẹp,

Lưng ong, mắt biếc, mày ngài,

Tom chát, chát tom, sênh phách.

Thế gian cười hay khóc,

Ông cứ sống được là mình.

Ăn ngon mặc đẹp sao bằng chơi đẹp,

“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch….”

Lưu danh muôn đời để làm chi,

Sống cho trọn kiếp người… nhớ câu “sinh kí tử quy”,

Biết sống cho mình, được mấy người biết thế!

Nương dâu, bãi bể,

Bãi bể, nương dâu,

Ông vẫn vẹn nguyên như thế.

Đàn ca sáo nhị phách sênh

Tom tom chát.

Người xinh

Giọng hát cũng xinh,

Người ròn cái tỉnh tình tinh càng ròn.

Về Tiền Hải, Kim Sơn,

Chỗ nào cũng thấy ông hiển hiện.

Về Cổ Đạm

Nghe đào nương ca cao vút tiếng thông reo.

Tom chát, tom tom chát, chát tom…


 

VỚI LÍ BẠCH

 

Ông sinh ra trong một gia đình thương nhân giàu có,

Chẳng có tội tình gì,

Quê hương ông xa Trường An vạn dặm đường,

Càng hay.

Không phải uốn mình theo lễ,

Không phải tự trấn an bằng sáo ngữ “an bần lạc đạo”,

Khỏi phải nghe cho rườm tai những lời đạo chích – thánh nhân.

Múa kiếm, làm thơ và uống rượu,

Cho phỉ chí làm trai cho bõ công trời sinh.

Uống rượu một mình dưới trăng và ngêu ngao hát…

Có thêm bạn bè thì cởi áo cừu, đem ngựa quý mà đổi lấy rượu ngon.

Tiền bạc, chức tước là vật bên ngoài chỉ làm tấm thân cồng kềnh thêm nặng,

Chết đi rồi ai lưu lại danh thơm?

Chỉ thấy chật đầy những trang sử hôn quân, ngu trung, bất nhân, bất nghĩa,

Chỉ thấy chật đầy những trang sử xương trắng phơi đầy đồng nội,

Chỉ thấy chật đầy nước mắt dân đen.

Làm trai cũng muốn đem tài giúp nước,

Nhưng phượng hoàng thi chung lũ vịt gà, Lí Bạch không thèm.

Trời sinh ra ông có tài, ông sẽ sống có ích,

Cần chi một tấm biển đề danh!

Lâm triều, ông nhận ngay ra thân phận,

Nhà thơ ngự dụng làm sang cho Đường Minh Hoàng,

Biết bao kẻ lấy thế làm vinh còn ông chỉ thấy nhục.

Quán rượu nghèoTràng An ông tìm đến hàng ngày.

Nỗi nhục nhã liệu có rửa trôi bằng rượu đắng?

Thân phận tôi đòi càng thấm thía khi say!

Những mũ cao áo dài ông khinh bỉ,

Cả em trai họ Dương ông cũng đem ra làm trò hề,

Cả vua nữa ông cũng coi là trẻ ranh không sợ,

Làm thơ tình gửi tặng Quý Phi.

Giữa Trường An lunh linh hoa lệ,

Ông nhận ra dông bão phía trời xa,

Sấm sét nổ kinh đô thành đống gạch,

Cỏ mọc đầy lang sói ùa ra.

Học theo người xưa “quy khứ lai từ…”

Không về được với Đào Nguyên thì ta về với rừng với núi,

Nghe thông reo suối hát nhìn ngắm mây bay,

Ngắm trăng khuya một mình và nghe chim hót,

Bận tâm làm gì,

Cuộc thế phù du.

Thuyền trôi trên sông, trăng sáng bốn bề,

Lòng sông xanh thẳm,

Trời cao mây bay,

Gió hiu hiu thổi,

Uống rượu và hát,

Trời cho ta tài,

Cho ta trí,

Cho ta làm người.

Nào thêm một chén ta mời ta,

Thêm chén nữa ta mời trăng sáng,

Giã từ cuộc thế phù du.

 

 

VỚI ĐỖ PHỦ

 

Suốt đời ông mong có một minh quân,

Suốt đời ông đọc sách mong mỗi khi lên tiếng;

Bút mực có thần.

Học hành, thi cử, đỗ đạt, làm quan…

Thờ vua và giúp dân đời yên bình ngày Nghiêu tháng Thuấn,

Lối đi ấy thênh thang hay đường cùng ngõ cụt?

Nào ai có hay!

Thời trai trẻ cũng có khi phải khom lưng và uốn cong ngòi bút,

Viết những lời giả trá mong nhận được ân huệ từ bề trên,

Hàng chục bài thơ, nhiều trăm bài thơ rập rờn sáo ngữ,

Đàn bướm ngôn từ sặc sỡ,

Đàn bướm ngôn từ chết khô,

Đàn bướm ngôn từ vô dụng.

Cuộc thế vần xoay loạn lạc nổ bùng,

Trường An mùa xuân hoa đầm đìa nước mắt,

Cỏ mọc đầy che kín mặt thành,

Ngõ Ô Y vắng tanh vắng ngắt,

Cú bay, quạ bay mắt xanh lè xám ngắt,

Khắp Trung Nguyên xương trắng phơi đầy,

Biên thùy máu thành biển đỏ.

Giấc mộng Thuấn – Nghiêu thành mây khói,

Quan hạt vừng Đỗ Phủ hóa dân đen.

Loạn lạc, chia lìa hất ông về nơi cùng khổ

Thơ ông đẫm lệ nỗi oan khiên thập loại chúng sinh.

Ông viết thơ cho mình,

Ông viết thơ vì mình,

Tận cùng nỗi đau, tận cùng nước mắt, tận cùng máu,

Sống trên quê nhà mà nơm nớp âu lo,

Người sống hệt như búi cỏ,

Bị hất tung lên khô héo phận hèn.

Người chết hóa thành ma, thành quỷ,

Đêm buồn dài bất tận

Người sống sót trở về sau loạn như ma hiện giữa ban ngày,

Sức dân tàn kiệt

Khắp Trung Nguyên làng mạc xác xơ gầy

Khắp Trung Nguyên rền rĩ khóc than ai oán

Mặt trời úa vàng

Vầng trăng tái xám.

 

Nguồn: Văn Việt

______________

Ghi chú: Tác giả 3 bài thơ này đang sống ở Thái Nguyên, trùng tên với nhà phê bình văn học Đặng Tiến đang sống ở Pháp.

 


Saturday, May 15, 2021

2023. NGÔ THẾ VINH Trần Hoài Thư và Ngọc Yến với con chim chằng nghịch và nỗi nhớ quê



      Lời Dẫn Nhập: Trần Hoài Thư là một tên tuổi có trong danh sách các tác giả của Tuyển Tập Chân Dung VHNT & VH II, nhưng cũng để thấy rằng đây là một chân dung văn học rất khó viết, do đã có quá nhiều người viết về đủ mọi khía cạnh của THT. Hơn thế nữa cuộc đời và sự nghiệp của THT quá phong phú nên với một bài viết dù chỉ là phác thảo cũng vẫn là một thiếu sót. Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với  rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ.  

  

 

Hình 1: trái, thầy giáo Trần Hoài Thư (1967) ở tuổi 25 khi mới chuẩn uý về làm trung đội trưởng thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. [nguồn: “Nhà văn Việt Nam” của Lương Trọng Minh]; phải, nửa thế kỷ sau nhà văn Trần Hoài Thư (2017) ở tuổi 75 đang ngồi khâu Di sản Văn học Miền Nam dưới tầng hầm căn nhà 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062, là địa chỉ Thư Ấn Quán, cũng là toà soạn Thư Quán Bản Thảo. [ nguồn: ảnh THT tự chụp từ video với iPhone 5; Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017 ]

  

TIỂU SỬ TRẦN HOÀI THƯ


      Trần Hoài Thư tên thật Trần Quí Sách, sinh ngày 16/12/1942 tại Đà Lạt. Tuổi thơ bị thất lạc cha, theo mẹ sống khổ cực ở thành phố Nha Trang, có một thời gian sống trong cô nhi viện Bethlehem Hòn Chồng. Sau khi được đoàn tụ với thân phụ – là một ông đồ còn mặc áo lương đen, THT mới được theo học trường Quốc Học Huế, rồi vào Đại học Khoa học Sài Gòn. Từ năm 1964-1966 là giáo sư Toán đệ nhị cấp trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ tỉnh Quảng Tín (nay đã sát nhập vào tỉnh Quảng Nam).

 

      Năm 1967, nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Phục vụ tại đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. THT bị thương 3 lần. Lần đầu tiên do một viên đạn AK VC bắn vào ngực trái khi đơn vị anh tới tăng viện cho mặt trận Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân 1968, THT phải nằm Quân Y viện Quy Nhơn một thời gian. Hai lần sau đều là những vết thương miểng do lựu đạn trong hai cuộc giao tranh khốc liệt trên chiến trường Bình Định: một trên ngọn đồi Kỳ Sơn với 4 sĩ quan tử trận 2 sĩ quan còn lại bị thương trong đó có THT, một trên trận địa xứ dừa Bồng Sơn. THT rời đơn vị Thám kích sau 4 năm với 3 chiến thương bội tinh, rồi về làm phóng viên chiến trường ở vùng IV nơi anh mới có một người vợ đồng bằng – Ngọc Yến là một cô gái Cần Thơ mê văn anh, cho tới ngày 30/4/1975.

 

MỘT MỐI TÌNH VĂN CHƯƠNG


      Trần Hoài Thư khởi sự viết văn từ năm 1964, có lẽ sớm hơn. Truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ được đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Ngoài Bách Khoa, những năm sau đó THT còn cộng tác với Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức...

 

      Không biết cô gái Cần Thơ Nguyễn Ngọc Yến bắt đầu đọc và hâm mộ Trần Hoài Thư từ bao giờ. Trên Tạp chí Sóng Văn (1997), Ngọc Yến cho biết: “cũng vì yêu mến văn chương, nên duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau, và nhà văn Nguyễn Lệ Uyên là ông mai”. Từ trước đến nay, tôi vẫn đinh ninh anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa là ông mai. Qua Đỗ Nghê, tôi đã liên lạc được với Nguyễn Lệ Uyên, và anh đã mau mắn trả lời tôi ngay trong đêm qua một email [viết ngày 05.05.2021]:

      Chuyện là thế này: hồi học Sư Phạm Đại học Cần Thơ (1968), lúc làm hồ sơ nhập học bị trễ mấy ngày, bị làm khó. May sao gặp chị Yến làm ở phòng Hành Chánh của Viện nói giúp với ông Khoa trưởng. Sau đó thì thân nhau, bởi chị cũng biết tôi có võ vẽ mấy truyện ngắn trên Văn, Khởi Hành... mà chị thì mê văn chương, đọc nhiều, các tạp chí văn học chị hầu như ít bỏ sót, nên chúng tôi coi như chị em, chị lớn hơn tôi 7,8 tuổi. Những dịp nhận nhuận bút, tôi thường chở chị đi ăn món gì đó. Rồi trên số Văn chủ đề Những cây bút trẻ, lại có truyện của tôi và anh Trần Hoài Thư. Khi nhận nhuận bút, tôi mời chị đi ăn bún bò Huế ở quán ông Ba Mập ngoài Bình Thủy, trên đường đi Long Xuyên. Ăn, chị hít hà, chảy nước mắt và khen ngon. Trong lúc ăn, chị hỏi tôi có biết, quen anh THT không, có nhận xét gì về truyện anh Thư. Tất nhiên là quen nhiều, vì ảnh, từ Quy Nhơn hay vào chơi với anh em văn nghệ Tuy Hòa năm ba hôm, thường thì ăn uống rồi ở lại nhà tôi.

      Thâm tâm, tôi chỉ nghĩ chị hỏi để hiểu rõ thêm về một tác giả, nhưng không ngờ, chị mê truyện anh Thư, mê các nhân vật khốn khổ của ảnh, như hiện thân của một THT được bê nguyên xi vào truyện rồi yêu cả truyện và người viết! Tới cuối năm 69 đầu 70, nhóm sinh viên chúng tôi thực hiện chương trình ca nhạc, đọc, ngâm thơ hàng tuần ở giảng đường lớn, chị mới biểu lộ tình cảm thật của chị đối với anh Thư. Chị hỏi tôi gia cảnh, sinh hoạt cá nhân, tính tình... Vậy là đã rõ. Tôi ra sức vẽ vời anh THT còn hay hơn truyện tôi viết. Tôi sơn phết anh Thư cho tròn trịa hơn một chút, bặm trợn, lãng mạn như cụ Hemingway một mình giữa biển khơi. Tối đó, tôi viết cho anh Thư đến 4, 5 tờ pelures về chị Yến. Kể thật về điều tai nghe mắt thấy, về nhan sắc, tính tình của chị trong gia đình gia giáo (ông cụ thân sinh chị là GS Tổng Giám thị trường Trung học Phan Thanh Giản). Với anh THT, tôi viết thư nói đây là một mẫu người lý tưởng để làm vợ, anh đừng để mất cơ hội. Chị Yến thì gần, gặp nhau hai chị em nói chuyện thơ văn, tán dương ông anh Quí Sách, khuyến khích chị viết thư làm quen với các nhân vật của ảnh. Sau vài ba lần như vậy, tôi nói thẳng với chị: Anh Thư là một người tuy không hoàn hảo, nhưng sẽ là người chồng tốt…[hết trích dẫn]

 

      Từ đó địa chỉ Toà soạn Bách Khoa, trở thành hộp thư để cô gái miền Tây làm quen và liên lạc với người lính lang bạt Trần Hoài Thư. Sau đó Bách Khoa cũng là điểm hẹn cho lần gặp gỡ đầu tiên của hai người.  Rồi trong một chuyến về phép ngắn ngủi, Thư có hẹn lần đầu gặp Yến ở Bách Khoa. THT vui bạn bè nên trễ buổi hẹn với Yến. Khi Đỗ Nghê chở Thư tới 160 Phan Đình Phùng thì Yến đã giận bỏ đi. Và cũng chính anh Lê Ngộ Châu đã tất bật đuổi chạy kịp theo Yến đưa trở lại toà soạn gặp THT. Những kỷ niệm trân quý với anh Lê Ngộ Châu là điều mà mãi sau này THT không bao giờ quên. Rồi không lâu sau đó hai người nên duyên vợ chồng. Thư đã làm lễ thành hôn với Yến ngày 18/6/1971.

       Nguyễn Lệ Uyên viết tiếp: Cuối cùng, như duyên tiền định với tô bún bò Huế cay xè tôi đãi chị, hai người hẹn hò nhau ở tòa soạn Bách Khoa, đến tháng 6/1971 hai người làm đám cưới;  khi ấy  tôi đang ở quân trường Thủ Đức, nhận được thư chị viết mấy dòng ngắn: Chị và anh Thư cưới nhau, ngày... tháng... năm... Em gắng lấy giấy phép về dự, không anh chị buồn".

      Đúng là một “đám cưới nhà binh” tại Sài Gòn không thể nào đơn giản hơn, chỉ với mươi người bạn nơi một căn nhà trong xóm Bàn Cờ, không có rước dâu cũng không có cả nhẫn cưới.

      Một tuần lễ sau, ngày 23/6/1971 Cơ sở Xuất bản Ý Thức tổ chức một buổi ra mắt sách cho Trần Hoài Thư với tác phẩm đầu tay “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” có Trần Phong Giao thư ký toà soạn Văn tới tham dự.

Friday, May 14, 2021

2022. THÁI KẾ TOẠI Nguyễn Hữu Đang, thủ lĩnh một cuộc cách mạng

 

Ông Nguyễn Hữu Đang (bí danh Phạm Đình Thái) sinh ngày 15 tháng 8 năm 1913 trong một gia đình công chức cấp huyện tại làng Trà Vi, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Năm 1929 ông tham gia Hội Sinh viên thị xã Thái Bình thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, là Tổ trưởng và đối tượng kết nạp đảng. Ông kê khai người phụ trách là Nguyễn Văn Ngọ, Ủy viên thường vụ tỉnh ủy, sau cách mạng là Chủ tịch tỉnh Thái Bình.

Ông bị Pháp bắt vào cuối năm 1930 và bị giam hai tháng rưỡi tại thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, Nguyễn Hữu Đang bị đưa ra tòa xét xử, nhưng được tha, vì dưới tuổi thành niên. Sau đó, ông lên Hà Nội theo học Trường Cao đẳng Sư phạm.

Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Hữu Đang tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939) trên lĩnh vực báo chí, viết và làm biên tập viên cho các báo Thời báo, Ngày mới và Tin tức. Ông hoạt động công khai ở Hà Nội, là đồng chí của Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Phan Thanh, Nguyễn Văn Tố.

Trong thời kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật (1939-1945), ông hoạt động trong khối trí vận của Đảng, chuyên lo việc vận động giới tư sản và trí thức, là một trong những cán bộ chủ chốt của Hội Truyền bá Quốc ngữ (do Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đằng sau hậu thuẫn). Năm 1943, ông tham gia Ban Chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc và gia nhập Tráng đoàn Lam Sơn của tổ chức Hướng đạo sinh Việt Nam. Mùa hè 1944, Nguyễn Hữu Đang tham gia tổ chức và chủ trì Hội nghị Giáo khoa thư Toàn quốc ở Hà Nội. Mùa thu 1944, ông bị bắt và bị giam giữ một tháng tại Nam Định cùng với nhà văn Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Như Phong.

Cuối 1944 đầu 1945 ông được giao nhiệm vụ tiếp xúc với Tổ chức kháng chiến Pháp ở Đông Dương thuộc phái Đờ Gôn do tướng Eugène Mordant đứng đầu để Trung ương Đảng xúc tiến thương lượng hợp tác đánh Nhật.

Tháng 8 năm 1945, ông được Đại hội Quốc dân ở Tân Trào bầu vào Ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương (Chính phủ Lâm thời khởi nghĩa) gồm 15 ủy viên.

Khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang được phân công làm Trưởng ban Tổ chức Ngày tuyên bố Độc lập 2/9/1945. Ngày nay trên sách báo người ta hay nhắc đến câu nói của Hồ Chí Minh khi giao việc dựng Lễ đài Độc lập với thời gian hết sức gấp gáp, trang thiết bị thiếu thốn: "Có khó mới giao cho chú" (tức Nguyễn Hữu Đang).

Từ 9/1945 đến tháng 12/1945, ông tham gia Chính phủ Lâm thời, lần lượt giữ chức Bộ trưởng bộ không bộ (rất ngắn), Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Chủ tịch Ủy ban Vận động Hội nghị Văn hóa Toàn quốc. Khi Mặt trận Liên Việt được thành lập ông phụ trách Trưởng ban Tuyên truyền Xung phong Trung ương. Từ 6-1948 ông phụ trách báo Toàn dân Kháng chiến (báo của cơ quan trung ương Liên Việt).

Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Về việc này ông giải thích như sau: Trên thực tế, từ Phong trào Mặt trận dân chủ đã tự nguyện công tác tích cực như một đảng viên và đã được tổ chức đảng mặc nhiên công nhận như một đảng viên nhưng về mặt nguyên tắc, thủ tục thì mãi đến đầu năm 1947, sau Hội nghị Thông tin toàn quốc họp ở Phú Thọ Tổng bí thư Trường Chinh mới cử hai đồng chí Nguyễn Khánh Toàn và Xuân Thủy thay mặt tổ chức đảng bố trí một buổi lễ truy nhận Nguyễn Hữu Đang chính thức là đảng viên từ năm 1943 là năm ông bắt đầu nhận được sự liên lạc đều đặn cũng như sự chỉ đạo công tác thường xuyên của các đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh và Bí thư thành ủy Hà Nội Lê Quang Đạo.

Từ tháng 6/1949 đến tháng 10/1954, ông được cử làm Trưởng ban Thanh tra Bình dân học vụ. Trong thời gian này có người nói rằng thực chất ông không tham gia công tác nữa mà vào Thanh Hóa giúp cho Nhà xuất bản của Trần Thiếu Bảo xuất bản sách cho kháng chiến. Cũng có tin nói ông xin ra khỏi Đảng. Cũng có tin nói ông bị khai trừ ra khỏi Đảng. Ông Đang không nói, viết về thời kỳ này, cũng không có chứng từ nào phản ánh điều đó.

Từ tháng 11/1954 đến tháng 4/1958, ông làm biên tập viên tuần báo Văn nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Khi trở về Hà Nội, ông Lê Đạt cho biết ông Trường Chinh và ông Tố Hữu định giao cho ông chức Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội nhưng ông không nhận, chỉ xin làm biên tập cho báo Văn Nghệ.

Cuối 1956, ông chủ trương và làm biên tập báo Nhân Văn và cộng tác với báo Giai Phẩm.

Nguyễn Hữu Đang

2021. THỤY KHUÊ Tự Lực Văn Đoàn - Văn Học Và Cách Mạng (26)

 

Ngày Nay phóng sự

Thế Lữ – Trọng Lang – Thạch Lam

Sự ra đời của Ngày Nay

Ngày Nay được quyết định ra đời cuối năm 1934, khi Phong Hóa in tới số 130 (28-12-34), vì nhiều lý do:

- Phong Hóa đang ở trong thời kỳ cực thịnh, với hai vạn độc giả [dân số lúc đó 20 triệu người][1], có đủ phương tiện tài chính để mở thêm một tờ báo mới, dưới hình thức mới: chiếu ống kính vào đời sống thực của người dân qua ngả phóng sự với hình ảnh đi kèm.

- Cùng thời điểm ấy, Nguyễn Tường Cẩm (anh Nhất Linh) về Hà Nội chữa bệnh, muốn ở lại làm báo, bỏ nghề kỹ sư canh nông thường hay phải đi xa.

- Nhất Linh giao cho Nguyễn Tường Cẩm làm Giám đốc và Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) làm Chủ bút báo Ngày Nay, với một ban biên tập trẻ: Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ), Tường Bách (em út Nhất Linh) và Trọng Lang, một cây bút mới.

Ngày Nay từ số 1 đến số 15[2] do Thạch Lam quán xuyến, có hai mục đích chính:

- Phát triển thể văn phóng sự, mô tả cuộc sống hàng ngày của người dân, chủ đích làm lộ bộ mặt trái của xã hội Việt Nam thời thuộc địa, với những hình ảnh đi kèm.

Bài xã luận trên Ngày Nay số 1, ký Tự Lực Văn Đoàn, viết:

"Mục đích của Ngày Nay là làm cho các bạn biết rõ sinh hoạt của dân ta trong buổi bây giờ, về mọi phương diện, cả hình thức lẫn tinh thần (…) Chúng tôi sẽ đưa các bạn đi từ rừng đến bể, từ thành thị đến thôn quê, xem các trạng thái hiện có ở xã hội."

- Ngay từ những số đầu, Việt Sinh (Thạch Lam) và Minh Trúc (Nguyễn Tường Cẩm) đã nhiệt thành giới thiệu những thành quả của trường Mỹ thuật Đông Dương. Tờ báo là bệ phóng của Mỹ thuật và hậu thuẫn cho kế hoạch đem mỹ thuật vào đời sống của giáo sư Victor Tardieu mà chúng tôi đã trình bày trong chương Trường Mỹ thuật Đông Dương.

Trong số những cây bút đầu tiên của Ngày Nay, phải kể đến Tường Cẩm và Tường Bách, anh và em ruột Nhất Linh. Nguyễn Tường Cẩm[3], trong thời kỳ làm giám đốc Ngày Nay, đã viết một số bài ký tên Minh Trúc, như La Khê dệt lụa (phóng sự, viết về nghề dệt ở La Khê, một trong những làng đầu tiên học được nghề dệt lụa từ thời Lê sơ, nhờ 12 người Tàu di cư sang lập nghiệp truyền lại); Năm mới (xã luận, mừng xuân), Nền Mỹ thuật Việt Nam (tiểu luận) và Dân quê (xã luận, nói về đời sống khốn khổ của dân quê)[4]. Sau khi ông bỏ Ngày Nay, bút hiệu Minh Trúc cũng không thấy xuất hiện nữa.

La Khê dệt lụa của Minh Trúc, Ngày Nay số 1

Tuesday, May 11, 2021

Sách mới của NXB Thư Ấn Quán: MAI THẢO Bài viết ở trang cuối



2019. Tranh ĐINH CƯỜNG Mùa xuân

MÙA XUÂN 1
sơn dầu trên giấy, 18"x20"

MÙA XUÂN 2
oil on canvas, 24"x30"

Monday, May 10, 2021

2018. THỤY KHUÊ Tự Lực Văn Đoàn _ Văn Học Và Cách Mạng (25)



Tứ Ly và nghệ thuật trào phúng

Nghệ thuật trào phúng khởi đầu trên Phong Hóa từ số 19 và 22 với hài kịch của Hoàng Tích Chu[1]. Nhưng Hoàng Tích Chu mất sớm, người đứng lên tiếp tục là Tứ Ly (Hoàng Đạo) với loạt Tuồng cổ tân thời, thuần túy trào phúng, đăng trên Phong Hóa từ số 38 đến số 42.

Bẵng một thời gian, đến Phong Hóa số 124, trào phúng xuất hiện lại trên Phong Hóa, vẫn dưới ngòi bút Tứ Ly, nhưng lần này, dưới hình thức châm biếm có chủ đích, sức công phá mãnh liệt hơn, kéo dài đến Phong Hóa số 190, số cuối cùng.

Tứ Ly mở đầu việc chống đối quan trường dưới thời nhà nước bảo hộ với những loạt bài: Tam quốc tân thời diễn nghiã, Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu – Đi xem mũ cánh chuồn, Đi xem mũ ni Đi xem mũ giấy.

Về mặt hý họa, Tô Ngọc Vân thay Nguyễn Gia Trí trình bày Phong Hóa từ số 129 (21-12-34) đến số 160 (1-11-35), rồi ông đi Nam Vang, Nguyễn Gia Trí trở lại phụ trách Phong Hóa từ số 160 đến số chót 190 và tiếp tục trên Ngày Nay[2].

Với hý họa Nguyễn Gia Trí, việc chống phá bằng tranh mới thực sự khởi sắc. Sự kết hợp văn và vẽ của Tứ Ly và Gia Trí làm gai mắt chính quyền thuộc địa, Phong Hóa luôn luôn gặp khó khăn, cũng vì tác phẩm của hai người, nhưng không phải vì họ mà Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, như người ta vẫn tưởng.

Tứ Ly và thể văn hài hước

Tứ Ly bắt đầu viết kịch hài hước trên Phong Hóa rất sớm, với Tuồng cổ tân thời, đăng trên Phong Hóa từ số 38 (17-3-33) đến số 42 (4-4-33). Đây là một vở tuồng cổ, mô tả trận chiến hai phe: Một bên là Hoàng Tăng Bí tiên sinh[3], oai phong lẫm lẫm, bên tả có Nguyễn Khắc Hiếu, bên hữu có Nguyễn Văn Vĩnh, phò tá, cầm đầu đạo quân tiền bối ra trận. Một bên là bọn tiểu yêu Phong Hóa nhố nhăng, cùng với chủ soái Nhát Dao Cạo (Khái Hưng) rầm rộ ra khiêu chiến. Hoàng tiên sinh và lực lượng nho phong, sau một hồi tỷ thí, thua trận chạy có cờ (Xem chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam). Tuồng cổ tân thời là một thành công, sáng tạo lối kịch hài hước mới mẻ, trẻ trung, lần đầu tiên ở Bắc. Trước đó có kịch Chén thuốc độc (1921) của Vũ Đình Long, thuộc loại tân-cổ giao duyên. Nhưng Tuồng cổ tân thời chỉ có mục đích mua vui, chế giễu các cụ cổ, chưa chống Tây.

Một năm rưỡi sau, trên Phong Hóa, Tứ Ly đưa ra ba loạt hài hước mới: Cổ tích tân thời, Tam quốc tân thời diễn nghiã, và nhất là loạt bài phỏng vấn giả tưởng, với tít: Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu- Đi xem mũ cánh chuồn[4].

Sau số 150, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng (lý do sẽ nói sau). Khi báo ra trở lại, Tứ Ly bắt đầu loạt phóng sự tòa án: Trước vành móng ngựa[5], và loạt bài Đi xem mũ cánh chuồn còn thêm hai kỳ nữa, với bài phỏng vấn Phạm Lê Bổng và Bùi Bằng Đoàn[6]. Rồi loạt phỏng vấn Đi xem mũ ni[7]Đi xem mũ giấy[8]. Tất cả những sáng tác này thuộc vào loại hài hước hoặc bi hài, sở trường của Tứ Ly Hoàng Đạo.

Cổ tích tân thời là truyện đầu tiên, đăng trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), lấy giọng Tam quốc kể "tích" Lãng Nhân Phùng Tất Đắc. Chuyện rằng: Lãng Nhân "đánh" Tùng Viên (một nhà báo già), rồi hơi ngượng, tự giận mình, quyết đi tìm một tên nhà báo trẻ đánh cho đỡ ngượng. May thay, về nhà soi gương thấy một tên ngờ ngờ đứng trước mặt: Mộng Ngư [bút hiệu Lãng Nhân] bèn lấy ba-toong nện cho y một trận, vỡ tan gương!

Cổ tích tân thời chỉ có tính cách mua vui, có lẽ vì còn e dè mũi dùi kiểm duyệt, chưa dám thực sự "vào đề". Bỗng một chuyện không ngờ xẩy ra: nhà nước bảo hộ quyết định bỏ ty kiểm duyệt!

Bỏ ty kiểm duyệt

Tháng Giêng năm 1935, một tin cực kỳ hấp dẫn được đưa lên đầu trang nhất báo Phong Hóa số 131 (4-1-35), và được long trọng đóng khung như ai tín với tít "Bỏ ty kiểm duyệt: "Bắt đầu từ 1 Janvier 1935; ty kiểm duyệt không còn nữa". Kèm với "tin buồn" này, toàn ban biên tập "nhất trí" cùng gửi lời điếu lâm ly tiễn đưa Ty kiểm duyệt về cõi vĩnh hằng, dưới ký 11 tên: Tứ Ly, Nhất, Nhị Linh, Tú Mỡ, Thế Lữ, Lê Ta, Thạch Lam, Khái Hưng, Chàng thứ XIII [Lê Thạch Kỳ], Đông Sơn và Nhát Dao Cạo.

Sau màn nước mắt cá sấu là màn xuất quân: Tứ Ly viết Tam Quốc tân thời diễn nghiã, lấy tích cổ: Lưu Bị, Vân Trường, Trương Phi kết nghiã vườn đào [ám chỉ việc thành lập Tự Lực văn đoàn] cộng với tích tân: Đốc Bưu [đốc học Phạm Văn Thư, thanh tra chính trị ăn hiếp quan huyện]. Truyện thế này: Bị là viên quan huyện nhỏ mà không chịu đút lót quan lớn, nên Bưu khai man cho Bị tội hiếp dân.

"Trương Phi nghe tin cả giận, đôi mắt tròn xoe, hàm răng nghiến chặt, tức tốc cưỡi xe đạp đến quán dịch, chạy thẳng vào hậu đường; thấy Đốc Bưu đương ngồi chĩnh chện trong phòng giấy mà đề lại thì bị trói dưới đất.

Phi thét lớn lên rằng:

- Thằng mọt dân kia có biết ta là ai không?

Đốc Bưu chưa kịp với tê-lê-phôn cầu cứu đã bị Trương Phi túm cổ lôi tuột ra ngoài quán dịch, kéo thẳng về trước huyện, trói vào cột đèn rồi lấy "ba-toong" phết mãi vào hai mông đít".

Lưu Bị lòng vốn nhân từ, thấy "cụ lớn khâm sai" [đốc Bưu] kêu la đau đớn quá, bèn quát em xá tội cho.

Tam Quốc tân thời diễn nghiã là đòn đầu đánh vào bọn quan trường tham nhũng, đúng lúc được tin nhà nước bỏ kiểm duyệt.

Tứ Ly nhập cuộc

Màn dạo đầu Tam Quốc tân thời diễn nghiã hấp dẫn như vậy mà không bị cắt xén gì cả, nhất là lúc đó đang dưới thời Toàn quyền Robin, có tiếng hà khắc. Vậy vụ bỏ kiểm duyệt không phải là tin vịt, Phong Hóa số 132 (11-1-35) bèn thừa thắng xông lên, công khai đánh vào chế độ quan trường và các vấn đề hủ lậu khác. Bìa in tranh: Kiểm duyệt và báo chí của Tô Tử (Tô Ngọc Vân), bức tranh này mang tính cách "lịch sử" bởi là hý họa đầu tiên công khai chống kiểm duyệt, tức chống Pháp, tượng trưng tư tưởng con người như một dòng sông hay con đường, bị kẻ kiểm duyệt cầm kéo cắt xoẹt từng đoạn, tạo cảnh đường đứt, cầu trôi, sông vỡ, người bị đắm chìm, ngăn sông, cách núi.

Kiểm duyệt và báo chí của Tô Ngọc Vân, Phong Hóa 132