Friday, November 17, 2017

215. THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu: LẬP LUẬN Truyên rất ngắn của nhà văn Trung Quốc LỖ TẤN Lu Xun (鲁迅)

Lu Xun by Li Qun


      Lỗ Tấn là bút danh của Châu Chương Thọ (sau đổi là Chu Thụ Nhân), người tỉnh Chiết Giang, Trung quốc.
      Đã từng học trường hàng hải, trường mỏ địa chất, rồi sang Nhật học tiếng Nhật và ngành y.
      Từng dịch và giới thiệu văn học châu Âu ( thơ Pushkin, truyện Jules Vernes ).
     Từ 1920-1925 Lỗ Tấn làm việc tại các trường Đại học và Cao đẳng tại Bắc Kinh, Phúc Kiến, Hạ Môn.
      Về truyện ngắn, Lỗ Tấn có các tác phẩm:
      - Gào thét ( 14 truyện ), trong đó có các truyện nổi tiếng là Nhật ký một người điên, A Q. Chính truyện.
      - Bàng hoàng ( 11 truyện )
      - Chuyện cũ viết lại ( 8 truyện ), viết lại truyện cổ và truyện thần thoại.
      Về tạp văn, có tới sáu, bảy trăm bài đăng báo, sau in lại trong 7 tập.
      Về thơ, có tập Cỏ dại, gồm những bài thơ văn xuôi. Ngoài ra còn có 77 bài thơ vần, kiểu cổ điển.


      
       Tôi mơ về thời còn học tiểu học, đang ngồi trong lớp làm bài, tôi hỏi thầy làm cách nào để trình bày các lập luận. Thầy liếc nhìn tôi qua đôi kính rồi nói: " Khó đấy, nhưng thầy sẽ kể cho con nghe một câu chuyện.

      Có gia đình kia mới sinh con, lại là con trai nên được quý lắm. Khi đứa bé đầy tháng, gia đình mời khách đến để trình diện đứa nhỏ, đồng thời cũng mong nhận được những lời chúc mừng.
" Thằng bé này sẽ phát tài phát lộc ", một vị khách lên tiếng, và được cám ơn nồng nhiệt.
" Thằng bé này sẽ được hoạn lộ hanh thông ", vị khách khác nói, và cả nhà cám ơn rối rít.
       Nhưng một người khác lại nói : " Thằng bé này thế nào cũng sẽ chết ", ngay tức thì mọi người rượt đánh đuổi đi.
" Nói nó sẽ chết là nói điều chắc chắn sẽ xảy ra, nói nó phát tài phát lc là nói điều hứa hẹn lừa phỉnh, vậy mà người nói dối thì được cám ơn, còn người nói thật thì bị trách phạt. Còn con thì sao... "
" Con không thích nói dối, cũng không muốn bị đánh đập. Vậy, thưa thầy, con phải nói gì đây? "
" He he ! He he he he !"
" Con phải nói vậy đó : "À, thằng bé này! Nhìn nó này ! Thực là... Ôi, xem này! A, thấy chưa! He he, he he...! " 

THÂN TRỌNG SƠN
Dịch từ tiếng Pháp 
http://www.chineseshortstories.com/Tres_courtes_nouvelles_Lu_Xun_Argument.htm 

Bấm vào đường dẫn dưới đây để nghe AQ CHÍNH TRUYỆN:
AQ CHÍNH TRUYỆN - bản dịch của Trương Chính qua giọng đọc của Hồng Hà.

214. TRẦN HOÀI THƯ Thử tìm một phương pháp phân chia nhóm văn chương thời chiến




Một câu hỏi thường đặt ra khi chúng ta nhận định về nên văn học  miền Nam trong thời chiến tranh.  Có phải như Võ Phiến nhận định nhóm chỉ dựa vào không gian và thời gian, để kết luận có ba thế hệ nhà văn qua một bài nhận định văn học vào năm 1966:
– Thế hệ già là lớp mà tuổi thanh niên và thời kỳ sáng tác dồi dào nhất thuộc giai đoạn tiền chiến (Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn…)
– Thế hệ trung niên trải qua thời trẻ tuổi tha thiết và sôi nồi trong kháng chiến, rồi dùng chất liệu đó cho việc sáng tác sau năm 1954 (Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo, Doãn quốc, Sỹ, Sơn Nam. Võ Phiến, Vũ khắc Khoan v.v…)
– Thế hệ trẻ đạt tới tuổi trách nhiệm sau hiệp định Genève. Trong kháng chiến họ chỉ là những trẻ thơ, lớn lên đã được lịch sử lựa sẵn cho thế đứng, nên thoát khỏi các vặt đau lòng về chính trị như thế hệ trung niên. Nhưng ước vọng ý tưởng của tuổi trẻ va chạm phải cái thực tế của xã hội trước mắt. Cho nên lời viết của họ biểu lộ sự bất mãn, sự lạc hướng (Dương Nghiễm Mậu. Nguyễn Đình Toàn, Thế Uyên, Nhật Tiến, Viên Lính)… (1)
Như vậy, từ năm 1966 đến 1975, theo như  phương pháp  của Võ Phiến, thì  chúng ta phải chia như thế nào cho một thế hệ chiến tranh, trong một xã hội cùng cực phân hóa và một đất nước đầy nhiễu nhương. Tôi nghĩ, rất khó. Nhà văn Nguyện Mộng Giác đã  nói lên điều này qua bài viết xuất hiện trên tạp chí Bách Khoa  đầu năm 1975:
“…Nói đến chữ thế hệ, e có lớn lớn lối quá không ? Gần như mỗi người viết là một thế giới riêng, “những ốc đảo cô đơn nghìn năm” (như lỗi dụng ngữ những năm 1962, 1963). Tuy gần nhau ở tuồi tác, hoàn cãnh, tâm tư, nhưng những người viết lớp mới chịu ảnh hưởng của sự phân hóa cùng cực, chỉ đề cập đến những điều ít gây lôi thôi nhất, “cho nó yên”. Kết quả là lớp người mới lâu lâu gióng lên một tiếng dàn chùng lẻ loi, không thành được một hợp tấu-khúc: Trần Hoài Thư với Một nơi nào để nhớ, Lữ Quỳnh vớiSông sương mù  và Những cơn mưa mùa đông, Hoàng Ngọc Tuấn với Hôn lễ, Mường Mán với Lá tương tư vàMột chút mưa thơm, Nguyễn Thanh Trịnhvới Ví dụ ta yêu nhau v.v… Bản chất đa dạng và phức tạp của các tác phẩm lớp mới này, khó lòng tổng hợp thành một tính chất chung, xác định một khuynh hướng như Võ Phiến đã xác định cho ba thế hệ trước.” (1)
Riêng Cao Huy Khanh thì rất dè dặt trong việc phân chia này. Ông chia văn học miền Nam thành hai thời kỳ. Thời tiền chiến và thời hiện đại. Theo ông, thời tiền chiến thì sự phân nhóm  hay khuynh hướng dễ dàng hơn vì:.
“tình trạng sinh hoạt văn học vẫn còn tỏ ra nghèo nàn so với bây giờ, hay nói cho đúng hơn thì tình trạng sinh hoạt đặc biệt về bộ môn Tiểu Thuyết lúc đó không thể nào phong phú và phức tạp như đối với Thời Hiện Đại” (2)
Còn đối với thời hiện đại, sự phân chia  chỉ miễn cưởng thuần nhất một cách tương đối cho giai đoạn đầu. Như nhóm Sáng Tạo, Hiện Đại, Bách Khoa , Quan Điểm, Văn Nghệ. Sau đó, càng ngày, sự phân chia càng phức tạp, không thống nhất. Ví dụ như nhóm Bách Khoa, với Vũ Hạnh và Võ Phiến chẳng hạn. Riêng sự phân chia theo khuynh hướng cũng vẫn chưa đủ. “Nó  áp dụng đúng trong những thế kỷ trước là vì chúng tỏ ra thích ứng với tình trạng sinh hoạt tiểu thuyết còn phôi thai hoặc còn chậm phát triển của những thế kỷ đó; còn riêng đối với tình trạng phát triển mạnh mẽ như hiện tại thì chắc chắn chừng đó khuynh hướng vẫn chưa đủ để phân định những ranh giới cần thiết dùng để phân biệt một tác giả với một tác giả hay phân biệt được những tác phẩm này với những tác phẩm khác “… (2)
Tôi đề nghị bạn nên đọc bài  viết đầy lập luận  của Cao Huy Khanh do tạp chí Thư Quán Bản Thảo sưu tầm từ  nguồn tạp chí Thời Tập trước 1975. Chúng tôi đã  đánh máy và phổ biến lại trên Trang nhà Damau.org trước đây.
Có điều đáng nói là  thế hệ chúng tôi- thế hệ chiến tranh– thế hệ đã sản xuất ra nhiều nhà văn nhà thơ đông đảo nhất,  góp phần  to lớn vào việc tạo dựngmột nền văn học thời chiến lẫy lừng,  vậy mà nhà văn Võ Phiến đã không  dành cho thế hệ này một sự  “ưu ái”  như ông đã dành cho ba thế hệ trước.  Hay Nguyễn Mộng Giác không thể tìm ra một “phát ngôn viên”, hay Cao Huy Khanh cũng không thể dùng nhóm hay khuynh hướng trong thời hiện đại như ông so sánh với thời tiền chiến. Ông dùng cụm từ “nhà văn độc lập” đễ chỉ những người viết văn cọng tác cho nhiều báo có khi khác khuynh hướng khác nhau.
Theo tôi nghĩ, nhận định của Cao Huy Khanh là có phần  đúng hơn hết. Những “nhóm” “khuynh hướng” chỉ dành cho thế hệ  trước khi có chiến tranh bùng nổ (1955-1963). Ví dụ nhóm Bách Khoa, chúng ta liên tưởng ngay đến Võ Phiến, Võ Hồng,  Vũ Hạnh, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn văn Xuân, Nguyễn Ngu Í…. Nhóm Sáng Tạo có Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Vũ Khắc KHoan, Quách Thoại…  Nhóm Văn Nghệ thì có Dương Nghiễm Mậu, Lý Hoàng Phong …Còn thế hệ chiến tranh  thì chẳng có nhóm nào để mà ràng buộc. Lấy ví dụ  các tác giả như Mang Viên Long, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Hồ Minh Dũng, Lê văn Thiện, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Lệ Uyên v.v…  có nhiều sáng tác trên Bách Khoa, nhưng cũng  có nhiều trên Văn, hay Vấn Đề. Cũng có người vừa viết cho Trình Bày nhưng cũng viết cho  Khởi Hành mặc dù lập trường của tạp chí nhiều khi chống nhau hay có sự tranh luận cải vả trên văn đàn.
Lấy trường hợp bản thân tôi: Tôi đến với Bách Khoa đầu tiên, và có nhiều bài đăng trên Bách Khoa. Tôi cũng có nhiều bài đăng trên Văn, Trình Bày, Khởi Hành. Vậy thì tôi ở nhóm nào ?
Dĩ nhiên, là tôi không ở trong nhóm nào hết. Tôi là nhà văn độc lập. Nếu có nhóm là nhóm  của  những người viết trẻ thuộc thế hệ chiến tranh.

Trần Hoài Thư

213. THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu: ALEXANDRE Truyện ngắn của nhà văn Pháp GUY DE MAUPASSANT (1850-1893)




Đúng là ngày hôm đó, vào lúc 4 giờ như mọi ngày, Alexandre đẩy đến cửa căn nhà nhỏ của gia đình Maramballe chiếc xe lăn ba bánh, từ đấy, theo toa bác sĩ, ông sẽ đưa bà chủ già yếu và bại liệt đi dạo cho đến 6 giờ.

Khi ông đưa chiếc xe nhẹ hều này vào bậc cấp, đúng vào chỗ ông có thể dìu bà già to béo bước lên dễ dàng, ông đi vào trong nhà, và ngay lúc đó, bên trong nghe có tiếng nói giận dữ, giọng khàn đục của cựu chiến binh, đang gào thét chửi rủa, chính là giọng của ông chủ, cựu đại uý pháo binh hưu trí, Joseph Maramballe.

Sau đó là tiếng cửa đóng dập mạnh, tiếng ghế bị xô đẩy, tiếng chân bước vội vã, rồi không còn gì. Một lát sau, Alexandre xuất hiện nơi ngưỡng cửa ra đường, cố hết sức dìu bà Maramballe đã mệt lữ vì xuống cầu thang. Khi bà đã yên vị, chẳng phải là không khó khăn, trong chiếc xe lăn, Alexandre đi lui sau, nắm lấy thanh quay dùng để đẩy xe, cho xe đi về hướng bờ sông.

Ngày nào họ cũng đi qua thành phố nhỏ này giữa những lời chào hỏi tôn kính có lẽ gởi đến người giúp việc cũng như bà chủ, bởi nếu bà chủ được mọi người yêu quý, nể trọng, thì người lính già râu bạc, râu lão này vẫn được xem như là gương mẫu trong số gia nhân.

Mặt trời tháng bảy dữ dội đổ trên đường, nhấn chìm những ngôi nhà thấp dưới ánh sáng ảm đạm do quá chói chan và gay gắt. Mấy con chó nằm ngủ trên những vỉa hè dưới bóng râm các bức tường, và Alexandre thở dốc rảo bước để nhanh tới đại lộ dẫn ra sông.

Bà Maramballe đã thiu thiu ngủ dưới chiếc dù trắng có đầu mũi nhọn đôi lúc hờ hững chạm vào gương mặt thản nhiên của người đàn ông.

Khi họ đi tới ngõ Tilleuls,trong bóng câybà già tỉnh hẳn, bà cất giọng ân cần:
"Đi thong thả thôi, ông bạn tội nghiệp, nắng thế này ông sẽ đuối đấy."

Bà lão hiền lành, với thói ích kỷ ngây thơ, đâu có nghĩ là, nếu bà muốn đi chậm hơn, là chỉ vì bà vừa mới tới nơi khuất dưới tán lá cây xanh.

Gần con đường bao phủ bởi những cây đoạn già cắt tỉa thành vòm, dòng sông Nanterre chảy quanh co giữa hai hàng liễu.

Tiếng nước xoáy ồng ộc, tiếng nước đổ trên đá, tiếng nước ngoặt dòng đột ngột, hoà thành khúc ca êm dịu của nước và không khí mát lành ướt át trong suốt cuộc dạo chơi này.

Được hít thở và tận hưởng sự ướt át dễ chịu của nơi này một lúc lâu, bà Maramballe thì thầm:
" Bây giờ khá hơn rồi. Nhưng hôm nay ông ấy thức dậy không được khoẻ."

Alexandre đáp:
"Ồ, vâng, thưa bà."

Đã ba mươi lăm năm ông phục vụ gia đình này, ban đầu là lính hầu cận sĩ quan, sau đó là người hầu đơn thuần không muốn rời xa chủ, và sáu năm trở lại đây, mỗi chiều ông đẩy xe đưa bà chủ quanh các con đường hẹp của thành phố.

Từ việc chăm sóc tận tuỵ lâu ngày này, sau đó, từ việc giáp mặt tay đôi hàng tuần như thế này, giữa bà già và người giúp việc đã nảy sinh tình cảm thân mật, trìu mến ở bà, kính trọng ở ông.

Hai người nói về việc trong nhà như cách nói của những người bình đẳng. Ngoài ra, chủ đề chuyện vãn và bận tâm chính của họ là tính xấu của ông đại uý, nặng nề dần vì sự nghiệp lâu dài bắt đầu khá hiển hách, rồi trôi đi không thăng tiến, và kết thúc chẳng vẻ vang.

Maramballe nói tiếp:
" Sáng thức dậy, ông ấy có tâm trạng không thoải mái. Điều này thường xảy ra từ khi ông thôi công tác."

Alexandre thở dài nói tiếp ý bà chủ:
"Ôi! Bà muốn nói là chuyện ấy xảy ra hàng ngày và xảy ra cả trước khi ông rời quân ngũ."
"Đúng vậy đó. Nhưng ông ấy cũng là người kém may mắn. Ông khởi nghiệp với một chiến công nên được thưởng huy chương khi mới hai mươi, thế mà từ hai mươi đến năm mươi tuổi, ông không thăng cao hơn cấp đại uý, trong khi từ đầu ông cứ nghĩ lúc về hưu ít ra ông cũng phải đại tá."

-     Bà vẫn có thể nói rằng dẫu sao cũng chỉ là lỗi do ông thôi. Nếu ông đừng tỏ ra lúc nào cũng mềm mỏng như cái roi ngựa thì cấp trên của ông đã quý mến và bảo bọc ông hơn. Cứ cứng cỏi có được gì đâu, cũng phải chiều ý người khác để gây thiện cảm chứ. Còn chuyện ông đối xử với chúng ta như thế này, cũng là lỗi của chúng ta thôi vì chúng ta thích ở bên ông, nhưng đối với mọi người, thì khác đấy.

Maramballe suy nghĩ. Ôi! Bao nhiêu năm nay rồi, mỗi ngày bà cứ nghĩ như thế đến thói thô bạo của ông chồng mà xưa kia bà đã cưới, lâu lắm rồi, bởi hồi đó ông là sĩ quan đẹp trai, còn trẻ đã có huy chương, và đầy triển vọng, như mọi người nói. Ở đời cũng lắm khi lầm lẫn! 

Bà nói nhỏ nhẹ:
" Dừng lại một chút đi, Alexandre đáng thương của tôi, và đến cái ghế của ông mà nghỉ. "

Đấy là một ghế băng nhỏ bằng gỗ, mục mất một nửa rồi , đặt ở chỗ rẽ lối đi dành cho những người dạo chơi ngày chủ nhật. Mỗi lần đi đến góc này, Alexandre thường ghé đến chiếc ghế đó ngồi thở vài phút.

Ông ngồi đấy, và với một cử chỉ quen thuộc, đầy tự hào, hai tay vuốt chòm râu bạc xoè ra như cánh quạt, nắm lấy rồi khép ngón tay lại mà vuốt nhẹ từ trên xuống dưới  và ép vào trước rốn một lát như thể muốn gắn dính nó ở đó và thêmmột lần cảm nhận được rằng cái thứ còn có thể phát triển nữa nàygiờ đã dài lắm.

Maramballe nói tiếp:
" Tôi thì tôi đã lấy ông ấy, thật ra chuyện tôi phải chịu đựng những bất công của ông ấy cũng phải lẽ và tự nhiên thôi, nhưng điều tôi không thể nào hiểu được là chính ông cũng phải chịu đựng như thế, là sao vậy, ông Alexandre trung hậu của tôi?"

Ông khẽ nhún vai và nói bâng quơ:
"Ôi, tôi mà... thưa bà."

Bà nói thêm:
" Thật vậy. Tôi thường nghĩ đến điều đó. Ông đã là lính hầu cận của ông ấy khi tôi kết hôn và ông chẳng làm gì khác ngoài việc chịu đựng ông ấy. Tại sao ông cứ ở với chúng tôi, lương thì thấp, đối đãi lại tệ, trong khi ông có thể làm như mọi người, lập nghiệp, lấy vợ, có con, tạo một mái ấm?"

Ông lặp lại:
"Ồ, thưa bà, với tôi thì khác chứ." Rồi ông im bặt, nhưng lại kéo chòm râu như thể muốn gõ cho tiếng chuông trong lòng ông ngân lên, như thể cố giật chòm râu ra,  đảo tròn đôi mắt hốt hoảng của một người đang cơn bối rối.

Maramballe vẫn theo đuổi ý nghĩ của mình:
"Ông đâu phải là nông dân. Ông có học thức mà."
Ông kiêu hãnh ngắt lời:
" Tôi có học làm nhân viên đo đạc địa hình, thưa bà."
" Vậy cớ sao ông cứ ở với chúng tôi, hỏng cả cuộc đời mình? "

Ông ấp úng:
" Chuyện là thế thôi! Chuyện là thế thôi! Do tại bản tính tôi thôi."
" Sao ạ? Do bản tính ông? "
" Vâng, tôi đã gắn bó là gắn bó mãi, không còn gì khác."

Bà bật cười.
"Ôi chao, ông đừng cố thuyết phục tôi rằng những cách đối xử tử tế và dịu dàng của Maramballe đã khiến ông gắn bó suốt đời với ông ấy."

Ông cựa quậy trên ghế, vẻ luống cuống thấy rõ và lầm bầm qua hàng râu mép:
" Không phải ông ấy, mà là bà!"

Bà chủ già  với gương mặt hiền lành viền bên trên, giữa vầng trán và mái tóc,  bởi một vành tóc xoăn màu tuyết được uốn cẩn thận hàng ngày và sáng bóng như lông  thiên nga, nhích người trong xe lăn và nhìn người giúp việc với đôi mắt ngạc nhiên.
"Ôi, Alexandre đáng thương của tôi, thế là thế nào? "

Ông đưa mắt nhìn lên trời, rồi nhìn sang bên, nhìn ra phía xa, đầu quay lại, như  kiểu người nhút nhát vẫn thường làm khi bị buộc phải thổ lộ những bí mật đáng xấu hổ. Cuối cùng, ông bày tỏ, với sự can đảm của người lính được lệnh ra mặt trận:

" Chuyện như vậy đó. Lần đầu tiên tôi mang thư của trung uý đến cho cô nương  và cô cho tôi hai mươi xu và còn mỉm cười với tôi, chuyện coi như đã định đoạt xong."

Bà không hiểu, khẩn khoản:
" Nào, ông hãy giải thích đi."

Thế là ông buột miệng, với nỗi lo sợ của kẻ khốn khổ phải thú nhận tội lỗi và hoàn toàn rối trí:
" Tôi đã có cảm tình với bà, thưa bà. Thế đấy! "

Bà không nói lại gì, thôi không nhìn ông nữa, cúi đầu xuống và suy nghĩ. Bà vốn có từ tâm, thẳng thắn, dịu dàng, đầy lý trí và nhạy cảm.

Trong giây lát, bà nghĩ tới sự tận tuỵ vô hạn của con người khốn khổ này, người đã từ bỏ mọi thứ để được sống cạnh bà mà chẳng bao giờ hé môi. Bà chợt thấy muốn khóc.

Rồi, lấy vẻ mặt nghiêm trang, nhưng không chút giận dữ, bà nói:
" Ta về thôi."

Ông đứng dậy, đến sau chiếc xe lăn và bắt đầu đẩy.
Khi về gần làng, họ nhìn thấy ngay giữa đường đại uý Maramballe  tiến về phía họ.

Ngay khi bắt kịp họ, ông nói với vợ, vẻ muốn tỏ ra nổi cáu thấy rõ
" Chúng ta ăn tối món gì đấy?"
" Gà giò nấu đậu."

Ông nổi khùng:
" Gà giò, lại gà giò, mấy cũng gà giò, mẹ kiếp! Tôi chán ngấy gà giò của bà rồi! Bộ đầu óc bà không có ý tưởng gì ngoài việc ngày nào cũng bắt tôi ăn có một thứ?"

Bà nhẫn nhục trả lời:
" Nhưng mà, mình biết là bác sĩ cho toa vậy mà. Đó cũng là thứ tốt nhất cho dạ dày của mình. Nếu mình không đau dạ dày, tôi sẽ cho mình ăn nhiều món mà tôi không dám dọn cho mình."

Thế là, ông nổi giận đứng sững ngay trước mặt Alexandre:

" Tôi đau dạ dày cũng bởi cái tên súc vật này. Ba mươi lăm năm nay hắn đầu độc tôi với cái kiểu bếp núc tệ hại của hắn. "

Bất chợt bà Maramballe quay đầu lại hẳn để nhìn người giúp việc. Hai đôi mắt của họ gặp nhau và người này lẫn người kia đều nói: "Cám ơn"chỉ bằng tia nhìn như thế thôi.

THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
( Alexandre )