Friday, May 20, 2022

2437. TRẦN HUIỀN ÂN: 5 bài thơ trích từ các bộ sách giáo khoa bậc tiểu học ở miền nam Việt Nam sau 1954

Nhà thơ Trần Huiền Ân - Đỗ Toàn vẽ (1971)

Sau năm 1954, Trần Huiền Ân thường có thơ đăng trên tuần báo Tuổi Xanh ở Sài Gòn, trong đó có nhiều bài được soạn giả Bùi Văn Bảo sử dụng làm bài học thuộc lòng cho học sinh lớp Bốn và Năm bậc tiểu học trong các bộ sách giáo khoa VIỆT NGỮ TÂN THƯ (1961) và TÂN VIỆT VĂN (1964). Dưới đây là năm bài thơ chúng tôi sưu tầm được từ những bộ sách nói trên.
       

CHUYẾN ĐI DÀI

Tuổi niên thiếu vốn nhiều mơ lắm ước
Tôi đã nuôi trong trí chuyến đi dài
Biết bao giờ cho thỏa được lòng trai 
Chân bé quá, không mang hài vạn dặm
Để ngày tháng vơi đôi phần thăm thẳm
Bản đồ đây tôi dự ước hành trình…

Giữa phương Nam biển dội sóng thanh bình
Tôi sẽ lấy Côn Sơn làm khởi điểm
Sau giây phút để tâm hồn mặc niệm
Lắng không gian nghe tiếng gọi tiền nhân
Đường thênh thang chí quyết cũng xem gần…

Đây Phú Quốc mùi quê hương tỏa rộng
Hà Tiên với cảnh non chùa thạch động
Kiên Giang còn Nhật Tảo sáng ngàn năm
Mắt cô em Cái Sắn tựa trăng rằm
Bao la quá ruộng Cà Mau xếp gợn
Thuyền độc mộc xuôi trên dòng Cái Lớn
Xuyên kênh đào về trẩy hội Tây Đô
Lòng Hậu Giang bát ngát tận đôi bờ
Cùng hẹn với sông Tiền trôi chậm rãi
Sen Đồng Tháp phơi màu tươi thắm mãi
Núi Điện Bà che rợp bóng tôn nghiêm
Trăng Sài Thành e thẹn dưới đèn đêm
Hai ngả nước ai Đồng Nai, Gia Định?
Bờ Long Hải chiều êm rây nắng tịnh
Bưởi Biên Hòa ngọt lịm khách miền xa
Trà B’Lao sưởi ấm nếp môi già
Đà Lạt gió quyện vầng mây thác nước
Rừng Ban Mê suối đờn nai khẽ bước
Buồm lao xao Phan Thiết rộn niềm vui
Ngọn Tháp Chàm cô quạnh tiếc ngày trôi
Tàu vạn quốc về Cam Ranh chen chúc
Thùy dương rủ Nha Trang thêm hiền thục
Đá Bia còn nguyên nét triện người xưa
Bãi Tam Quan cát mịn ấp chân dừa
Guồng xe tưới sông Trà gieo bụi trắng
Ngũ Hành ngắm mặt Hàn Giang phẳng lặng
Hải Vân đài cây vút tuyệt đường chim
Nửa khuya chuông Thiên Mụ vọng êm đềm
Cả Hương Ngự la đà theo nhịp trúc
Cầu Hiền Lương…
                        sẽ nối tình Nam Bắc
Xóa nhòa đi dòng phân cách thương đau
Từ Nam Quan cho đến mũi Cà Mau
Liền một dải
                 Và chuyến đi lại tiếp…

Men theo bóng dãy Trường Sơn trùng điệp
Sóng Thái Bình reo đón bước phiêu du
Qua Đèo Ngang nghe nhạc gió vi vu
Tới Thanh Hóa lúa vàng đùa trong nắng
Dân hoan lạc nhờ được mùa Nông Cống
Đem nén nhang vào lễ tạ Đền Sòng
Cầu Hàm Rồng chênh chếch bắc ngang sông
Trên dòng Mã nước in màu sông núi
Dìu dịu lúa non bình nguyên Nhị Thái
Tình ngọt ngào như nhãn trại Hưng Yên
Gió Đồ Sơn xua sóng bạc dịu hiền
Cửa Nam Triệu nước hai dòng mặn nhạt
Chiều Hạ Long mây vương tình man mác
Với chân trời sắc nước lẫn màu xanh
Sóng nhấp nhô vờn khe đá chông chênh
Thuyền nhẹ lướt, phải đây miền nước nhược?
Động Đầu Gỗ ánh chập chờn huyền hoặc
Hang Hanh nghe khoan nhặt nhạc âm vang
Đây Hòn Gai, đây Bái Tử, Hạ Long
Mà đâu bóng rồng thiêng sa hạ giới?
Núi Truyền Đăng thơ đề còn in mãi
Ngược sông Thương lên trẩy hội Tam Thanh
Chàng ra đi theo tiếng gọi quân hành
Để thiếp phải tháng năm trong mòn mỏi
Nàng Tô Thị đứng trông về biên ải
Ngàn năm còn chờ đợi bóng chinh phu
Chim Hà Giang buông nhịp hót “bắt cô”
Trên bến nước sông Lô còn tiếng hát
Nương bóng Hoàng Liên cây cao bóng mát
Rồi xuôi về theo sóng nước sông Hồng
Mây chịu tang Yên Bái có còn không?
Và Yên Thế còn tấm gương Đề Thám?


Bắc Ninh đẹp nhờ cảnh chùa Long Giáng
Sơn Tây buồn vì mây quyện Ba Vì
Đền Hùng mờ sương khói tỏa uy nghi
Non sông Việt nhờ tay ai dựng lập?
Sớm Hòa Bình, Chợ Bờ vui vẻ họp
Bến sông Đà dòng nước chảy cong cong
Tháng hai về xem trẩy hội chùa Hương
Hay trở bước lên thăm đền Thánh Gióng?
Về Hà Nội một ngày thu gió lộng
Cảnh núi Nùng sông Nhị dấu ngàn xưa
Sóng Hồ Tây gợn bởi bước Hai Bà
Hay là bởi trâu vàng xưa nhớ mẹ?
Đống Đa kia mồ chôn muôn vạn kẻ
Hồ Gươm còn thức ngủ bóng rùa thiêng?
Cầu Long Biên mấy nhịp bắc trường giang
Ô năm cửa mở đón chào lữ khách…

Đây Thăng Long bụi đường ta rũ sạch
Sống với lòng Đất Mẹ, với kiêu sa
Bàn tay vỗ nhịp ta ca
Ca tình sông núi chan hòa lòng trai

(1960)
Ghi chú: bài này viết chung với Yên Hà.


QUÊ EM

Khi khôn lớn rộng đường ra hải ngoại
Nếu có người muốn biết rõ quê em
Mở bản đồ, em sẽ chỉ người xem
“Đây nước Việt bốn ngàn năm yêu quý…

Quê em có núi rừng nung chính khí
Ngọn Hoàng Liên cao chót vót trời xanh
Dãy Trường Sơn như một bức liên thành
Chân trải rộng miền Cao nguyên mầu mỡ…

Quê em có hai cánh đồng vạn thuở
Vẫn còn xanh thắm thiết Bắc Nam Trung
Dâng lúa ngô nuôi nòi giống oai hùng
Mỗi trang sử ghi một lần thắng lợi…

Quê em có ba dòng sông chờ đợi
Hòa vui trong lòng mẹ biển bao la
Bùn Cửu Long giang, đất đỏ Nhị Hà
Pha trộn nước cùng sông Hương trong suốt…

Quê em đó… dáng hình như gầy guộc
Nhưng biết bao nhiêu cảnh trí hữu tình
Để ai qua cũng cảm thấy lòng mình
Quyến luyến mãi và hẹn ngày trở lại…”

(1964)


TIẾNG MẸ

Những buổi trưa hè thơ ấu xưa
Trời hiu hiu gió nắng hanh vừa
Trong vòng tay mẹ tôi say ngủ
Tiếng hát hòa theo tiếng võng đưa…

Tiếng mẹ hiền… ôi vạn mến thương
Tôi mang tiếng hát mẹ lên đường
Khắp lòng đất nước đâu đâu cũng
Gặp khúc “Ơi Hời” nhạc cố hương…

Tiếng mẹ hiền ơi, tiếng Việt ơi
Hai mươi lăm triệu đội chung trời
Từ Trung ra Bắc vào Nam vẫn
Tha thiết hòa chung một giọng thôi…

Tiếng mẹ hiền thơm ngát sử xanh
Văn chương thơ phú đã xây thành
Đúc hồn dân tộc nên gang thép
Vững với rừng gươm lửa chiến tranh…

Tôi dấn thân ra vạn dặm dài
Nằm sương, gối gió, nếm chông gai
Diệt trừ hung bạo, lo gìn giữ
Tiếng Việt ngàn sau chẳng kém ai…

(1964)


TÔI YÊU

Từ tấm bé một mối tình cao quý
Và thiêng liêng ràng buộc lấy tâm hồn
Tôi yêu lắm, ông bà cao niên kỷ
Chút tháng ngày như bóng nắng hoàng hôn

Tôi yêu mẹ từng đẻ đau mang nặng
Tôi yêu cha cho cơm áo cửa nhà
Yêu anh chị chung vui buồn mưa nắng
Yêu họ hàng cô bác khắp gần xa

Tuổi niên thiếu tôi yêu người lân lý
Yêu thầy cô dạy dỗ để nên người
Yêu bè bạn sách bài cùng chăm chỉ
Yêu ngôi trường đầy lá thắm hoa tươi

Khi khôn lớn, tôi yêu nòi giống Việt
Yêu núi sông đầy gấm vóc vàng son
Tự nghìn xưa bao anh hùng hào kiệt
Đã mất đi cho đất nước mãi còn…

(1964)


HÈ GIÃ BIỆT

Trời xanh mây trắng trôi tan tác
Xác phượng lìa cành lác đác bay
Sông núi chuyển mình thay nếp sống
Mùa hè giã biệt đã về đây

Nhí nhảnh tuổi thơ chào đón nắng
Tiếng cười át cả giọng ve ca
Bờ vai cánh phượng vương vương nhẹ
Tô điểm thêm màu chiếc áo hoa

Phần thưởng chiều nay em đón lãnh
Đùa vui trong suốt buổi liên hoan
Rồi mai muôn bước về muôn hướng
Nẻo ngược đường xuôi… lắm rộn ràng

Riêng trót đa sầu tôi ngẩn ngơ
Nhìn em chạnh nhớ những ngày xưa
Ngày xưa trong trắng vô tư ấy
Tìm lại nơi đâu khéo ỡm ờ

Ôi những ngày xưa dưới mái trường
Một năm là biết mấy yêu thương
Tình tôi hẹp quá, chưa ghi hết
Vạn đóa hoa lòng vạn sắc hương

Chỉ còn một bữa nữa mà thôi
Mai cửa trường im khép lại rồi
Tàu đến sân ga, tàu chuyển bánh
Mang người ly cách đến ngàn nơi

Thôi nhé, dù sao mình vẫn hẹn
Một ngày hội ngộ ở tương lai
Hè buồn, hè vắng, hè nhung nhớ
Không cản tình ta đến trọn đời

(1959)

Thursday, May 19, 2022

2436. SONG THAO Già khú đế

Bác sĩ/nhà văn/nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc

Bạn bè tôi, bỏ rẻ cũng đã tám chục niên kỷ. Người đời bảo già rồi. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chơi ác hơn. Trong bài viết “Già Khú…Đế”, ông luận như ri: “Già khú là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú đế”. Khú, từ điển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. “Khú đế” là “vua” của khú, hơn hẳn các khú”.


Tám chịch hay hơn nữa có phải là già khú đế không, hình như không ai trong chúng tôi nghĩ như vậy tuy mỗi lần tụ họp với nhau là một kịch bản khác. Gần như toàn thể chúng tôi đều là những vận động viên môn thể dục dụng cụ. Ông thì chơi gậy thường, ông gậy bốn chấu, ông chơi môn đẩy cái walker, có ông chơi nguyên chiếc xe lăn. Kềnh càng như vậy nhưng vẫn vui vì còn được nhìn thấy nhau. Già đâu mà già! Tuổi chỉ là những con số!


Theo phép lịch sự đương đại, người ta không nên hỏi tuổi một phụ nữ. Tôi muốn thêm vào một chút: người ta cũng không nên hỏi tuổi một người cao tuổi. Phiền phức cho các bậc quân tử lắm. Ngày xưa ngài Nguyễn Công Trứ khi bị gái nhí hỏi tuổi đã lách: ngũ thập niên tiền nhị thập tam. Năm chục năm trước tớ hăm ba!


Bậc con cháu của Uy Viễn Tướng Công ngày nay là ông Hoàng Lộc còn tổ cha hơn tiền nhân:


cứ muốn chơi ngon hơn ngài Nguyễn Công Trứ

bảy ba tuổi lập thiếp mà kể vô

ta tám mươi còn lăm le cưới vợ

một đời tròn vẫn ngạo nghễ trượng phu


Già khú đế mà vẫn em chã bởi vì ta cứ nhất định vẫn còn giơn. Già là chuyện của…tha nhân, ta vẫn không suy xuyển. Cái mặt ta ngày nào không soi gương, có già chi mô. Ông bạn xưa, trong thời covid giãn cách, hai ba năm mới nhìn thấy, ôi sao mà ông lại xuống cấp như dzậy? Trong mắt ta, chỉ có người khác già, ta không già, nói chi tới già khú đế. Ông bác sĩ họ Đỗ thiệt thà quá độ. Ông nói huỵch toẹt : “Già nó xồng xộc trên trời rơi xuống, dưới đất vọt lên. Không những xồng xộc nó còn gia tốc, tàn bạo như cơn sóng vỗ vào bờ đá, vội vã để mau chóng nhập vào dòng nước cuồn cuộn đuổi theo sau. Nó mạnh mẽ và tàn nhẫn tung tóe, tan tác, lắng chìm, không một chút xót thương. Nó lãnh đạm bởi nhiệm vụ nó phải thế. Nó thú vị bởi nó không phân biệt.Giàu nghèo sang hèn, da trắng da đen...Còn ta, ta chần chờ, chểnh mảng, làm ngơ. Hãy đợi đấy. Đi đâu mà vội. Không đâu! Một hôm già bỗng chuyển hệ sang già...khú, rồi khú đế đột ngột làm đảo lộn mọi tính toán...Già đến đột ngột và tàn bạo. Như một cơn động đất, không cần phải hỏi han, không cần báo trước. Như một cơn bão dữ, thổi ào qua, cuốn tất cả không thương tiếc. Khi nó khú đế, nó sẵn sàng làm ta trở nên lố bịch, buồn cười, ngớ ngẩn, đáng thương. Khi nhìn quanh những người già khú đế mà còn khỏe, ta nghĩ ta chắc cũng sẽ như họ. Còn lâu! Số người như vậy rất hiếm!”.


Già thời xưa khác thời nay. Tuổi tác nơi các cụ là cái túi kinh nghiệm sống mà người trẻ phải học hỏi để sống với đời. Ngày nay, thế giới thay đổi tàn bạo, cứ vài năm nó lại mang bộ mặt khác, kinh nghiệm là thứ không có chỗ xài, con người phải hối hả chạy theo để thích nghi. Già chỉ còn là mớ tuổi nặng chình chịch đè trên vai. Anh già, nhất là già khú đế, bị đá ra bên lề cuộc sống, chẳng còn là một con ốc trong bộ máy, chẳng còn chút giá trị kinh tế. Đành tiếc nuối tuổi trẻ. Ông Quan Dương vớt vát:


Trước khi anh trở thành già

Đương nhiên cũng trẻ như là em thôi

Trước khi bết bát quá trời

Suy ra anh cũng một thời trai tơ

Thế gian biến đổi đâu ngờ

Đang ba hoa bỗng dại khờ không hay

Đang ma giáo cỡ như vầy

Trở thành cục bột trong tay em cầm

Hỏi sao kỳ lạ thế em

Anh mà biết được chết liền một khi.


Tôi đọc được một câu “danh ngôn”, không biết của ai. “Ai cũng có tuổi trẻ nhưng không phải ai cũng có tuổi già”. Phải có phúc có phần mới được già. Vậy mà dân già vẫn có mặc cảm là ăn hại đái nát, chẳng ra cái chi chi. Chỉ được cái sản xuất ra hơi là tài. Không biết sao mà anh già nào cũng cứ nổ bôm bốp một cách dễ dàng. Chẳng thua chi bò. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ đích danh loài bò thải khí nhiều gây hại cho môi trường. Họ chữa bệnh…thải bằng cách cho bò ăn những thực phẩm khiến không tạo ra khí. Chưa thấy các nhà khoa học nghiên cứu về sự tum tủm liên tu bất tận của các cụ già khú đế. Tuy cho nổ, khi thì bùm bụp lúc tỉ tê ai oán, nhưng cái sự nổ của anh già rất vô duyên. Chẳng mùi mẽ gì! Có lẽ vì người già, cũng như chai nước hoa, càng để lâu càng phai mùi.


Tôi có trong tay một số sách của nhà...già học Đỗ Hồng Ngọc: “Gió Heo May Đã Về...”, “Già Ơi... Chào Bạn”, “Những Người Trẻ Lạ Lùng”. Tập nào cũng mỏng, mỏng như những ngày còn lại của người già. Nhưng không thấy ông bác sĩ này lý giải về sự tự do tút tít này của mấy anh già (Tôi chỉ nói tới mấy anh già vì phép lịch sự, các chị già chắc cũng tỉ tê như ai). Có lẽ vì ông chuyên ngành nhi khoa! Trước năm 1975 tôi đã từng đưa con tới phòng mạch của ông nhiều lần. Bệnh nhi đông nghẹt, la khóc điếc tai. Ông là một bác sĩ chữa bệnh trẻ em rất mát tay. Có lẽ vì vậy ông làm lơ với sự tưng bừng ồn ào của mấy anh già. Từ đâu mà ông nhảy phóc từ trẻ tới già, ông đổ tội cho tôi và đồng bọn, những người mang con cháu tới phòng mạch của ông. “Tôi đo tuổi mình qua cách xưng hô của các bà mẹ bế con đến khám bệnh. Trước đây họ gọi tôi bằng anh, sau gọi bằng chú, rồi bằng bác, và rồi mới đây thôi, một chị hãy còn rất trẻ đưa bé đến khám bệnh, lúc bé la khóc, chị dỗ nín đi cho ông ngoại khám con, thì tôi mới biết mình lên đến ông ngoại rồi mà không hay”. Khi bác sĩ đã thành “ông ngoại”, chúng ta mới được đọc những bài viết về tuổi già đặc sắc của ông. Ông gọi là tuổi “hườm hườm”. Tôi yêu chữ “hườm hườm” này quá! Nghe như trái còn bám víu trên cành.


Một trong những người hườm hườm là ông Khai Trí, một nhân vật mà người Sài Gòn xưa ai cũng biết. Ông chủ trương quên tuổi, nhất định không có cái gọi là tuổi già. Theo ông chủ nhà sách và nhà xuất bản nằm trên đường Lê Lợi này thì hồi 20 – 30 tuổi người ta còn quá trẻ, 30 – 40 thì đang trẻ, 40 – 50 hãy còn trẻ, 50 – 60 trẻ không ngờ, 60 – 70 trẻ lạ lùng và trên 70 là trẻ vĩnh viễn!


Khỏe re! Nhưng mấy người nghĩ được như vậy. Thường khi chúng ta ở độ tuổi 60 trở lên, độ tuổi theo Liên Hiệp Quốc là già, chúng ta thường quay đầu lại, tiếc cho 60 năm trước đã trôi đi mất. Tuổi hườm hườm là một khúc quanh quan trọng của đời người. Không phải mọi người tới tuổi 60 đều cảm thấy như nhau. 


Trước hết, nam nữ cảm thấy khác nhau. Chuyện này ai cũng đoán ra. Đang xí xọn, ăn diện bỗng thấy mình xuống cấp. Da dẻ nhăn nheo, mắt bớt…bồ câu, thân thể hết mượt mà, đời còn chi vui. Đức ông chồng cũng dzậy, ngớ nga ngớ ngẩn, râu tóc bạc trắng, nói năng lỗ mỗ, chẳng còn chút phong lưu rất mực của những năm xưa. Vậy là cãi nhau tía lia. Dưới mắt đức ông chồng, bóng hồng thướt tha năm xưa giờ đã hết hồng, lại thêm chút đanh đá khó ưa khiến gai mắt. Cãi không lại, im đi cho nó lành khiến trầm cảm, bực bội. Nghĩ tới thời trai trẻ huy hoàng, lịch lãm một cây mà ứa nước mắt tiếc nuối. Vậy là stress cả hai!


Lại phải tham vấn ông bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Ông viết: “Có ít nhất bốn loại stress thường gặp ở tuổi chớm già, ấy là stress về sinh lý, do những dấu hiệu hiển nhiên của tuổi tác mà dù ta tìm mọi cách để chối bỏ nó vẫn cứ lù lù xuất hiện, như tóc cứ bạc, răng cứ lung lay, lưng cứ nhức mỏi. Stress về văn hóa do cách xã hội đánh giá vai trò của người già, bởi vì người già không phải ai cũng đạt nhân như Nguyễn Công Trứ: “gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì / bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”. Stress về kinh tế cũng không phải là không đáng kể, đặc biệt ở vào tuổi chớm già mà một số người công ăn việc làm không ổn định hoặc bị thất nghiệp. Và cuối cùng là stress về tâm lý, cảm thấy mình bị hẫng, bị mất đi tuổi trẻ, chỉ còn  trống vắng, chỉ còn nhàm chán”.


Chúng ta đang ăn nhờ ở đậu nơi xứ người. Khác phong tục tập quán, khác văn hóa, khác lối sống nên chuyện stress càng thêm trầm trọng. Thế hệ chúng ta, nửa đời trước sống trong nước, nửa đời sau sống nơi nước người, chúng ta dễ chơi vơi. Chơi vơi dẫn tới chới với. Đang sống trong một xã hội mà câu “kính lão đắc thọ” được mọi người tôn trọng, chúng ta bị bỏ vào một xã hội mà sự bình đẳng là kim chỉ nam của cộng đồng. Cái già của chúng ta mất giá trị trong nền văn hóa mới. Trong nước, tuổi tác được kính trọng, chúng ta tự hào với tuổi tác. Tuổi tác tỷ lệ thuận với sự kính trọng. Chúng ta tự hào khi khoe tuổi với cộng đồng. Có khi còn ăn gian, thêm một tuổi mà ta gọi là tuổi ta.


Người già bản xứ khác hẳn. Đừng hỏi tuổi họ, cả đàn ông lẫn đàn bà. Họ giấu tuổi, thứ chỉ dấu…già. Họ làm mọi cách để níu tuổi trẻ: ăn mặc đúng mốt, nước hoa ngào ngạt, đi đứng thẳng thớm, cười nói lịch lãm. Họ làm trẻ trong khi chúng ta cố làm cho già hơn. Già rồi, ăn mặc sao cũng được nhưng nói năng phải giữ ý tứ, điệu bộ phải đường bệ, thỉnh thoảng ho lên một tiếng cho oai.


Giới già chúng ta bị ném vào một môi trường sống khác biệt với môi trường đáng lẽ chúng ta phải sống. Chênh vênh thiệt chênh vênh. Chuyện nhức nhối nhất trong mỗi gia đình người Việt chúng ta nơi nước người là chuyện đưa cha mẹ vào nhà già. Người già bản xứ coi chuyện vào nhà già là chuyện dĩ nhiên. Tiện cho cả cha mẹ lẫn con cháu. Nhưng phần lớn các ông bà già người Việt lại khác. Họ thất vọng tràn trề khi con cái đề nghị đưa vào nhà già. Họ có cảm tưởng bị bỏ bê. Họ nghĩ con cái bất hiếu khi vứt các đấng sinh thành vào nơi lạ hoắc, không ai thân thuộc, không ai sáng tối vấn an. Chỗ sống của họ phải là trong gia đình, giữa con cháu, cơm bưng nước rót, được hầu hạ tới bến. Họ không cần biết tới hoàn cảnh của con cái: vợ chồng đi làm từ sáng tới tối, cháu chít đi học suốt ngày không có thời giờ hầu hạ ông bà cha mẹ như cuộc sống trong nước.


Có người cố chấp, không chịu hiểu cho con cháu. Nhưng cũng có người hiểu và chấp nhận. Trong bài “Câu Chuyện Của Một Người Già Nhưng Dành Cho Những Người Chưa Già”, tác giả Tuệ Tâm đã chấp nhận. Ngày mai, tôi phải đi viện dưỡng lão…Không phải bất đắc dĩ, thì tôi cũng không muốn đi viện dưỡng lão đâu. Nhưng mà từ khi sinh hoạt hàng ngày không còn có thể tự xoay xở, mà con gái vừa làm việc bận rộn vừa phải chăm sóc cháu trai, không rảnh để quan tâm mình, đây dường như là sự lựa chọn duy nhất đối với tôi. Điều kiện sống ở viện dưỡng lão không tệ: một mình một gian phòng sạch sẽ, được lắp các đồ điện đơn giản thực dụng, đầy đủ các loại phương tiện giải trí; đồ ăn cũng ngon miệng; phục vụ rất chu đáo, bày trí xung quanh cũng rất đẹp. Sống trong nhà, kim chỉ cái gì cũng không thiếu, rương hòm, ngăn tủ, ngăn kéo đều đầy ắp các loại đồ dùng. Quần áo bốn mùa, đồ dùng bốn mùa, chồng chất như núi; tôi thích sưu tầm, tem sưu tầm đã thành từng chồng lớn, ấm tử sa cũng đã hơn mười cái. Còn có rất nhiều vật linh tinh cất giấu, nào là ngọc bích, hạt óc chó, vật trang sức. Đặc biệt là sách, cả một mặt tường là giá sách, chật kín đầy ắp; rượu ngon thì Mao Đài, Ngũ Lương, rượu Tây cũng phải mấy bình. Viện dưỡng lão chỉ có một gian phòng, một cái tủ, một cái bàn, một giường, một ghế sô pha, một tủ lạnh, một máy giặt, một TV, một bếp điện từ, một lò vi ba, căn bản không có chỗ để lưu giữ của cải mà mình tích lũy. Trong chớp mắt, tôi đột nhiên cảm giác được: những của cải này đều là dư thừa, chúng cũng không thuộc về mình”.


Tác giả đã cắn răng bỏ lại tất cả nhưng không tiếc nuối. Của cải trần gian là của trần gian, khi cần buông thì phải buông. Một đời tích lũy, tưởng những thứ đó là ruột thịt không bao giờ rời được nay bỗng ngộ ra những gì tưởng là của mình đều không phải là của mình. Khi sống với chúng, mình quấn quít với chúng, nhưng khi phải rời chúng, mình cũng phải chấp nhận buông.


Buông là một hành động không dễ gì thực hiện nhưng là một hành động phải làm của người biết lẽ vô thường, biết sống thuận theo lẽ trời.

Thế hệ chúng tôi, như đã nói ở trên, bỏ rẻ ra cũng tám chịch có hơn, kể như đã hưởng đủ lộc trời. Con số đó nằm trên cáo phó có thể được coi là con số đã trọn vẹn. Chúng tôi chừ như những mục tiêu bắn tỉa của anh thần cầm lưỡi hái. Nay anh tỉa người này, mai anh tỉa người khác. Trước sau cũng một ngày nào đó. Ừ thì một ngày nào đó!


SONG THAO

Tháng 5.2022

Wednesday, May 18, 2022

2435. TRẦN YÊN HÒA Nhà Văn Cung Tích với truyện ngắn "Ngoại Ô, Dĩ An và linh hồn tôi".

Trong ảnh: nhà văn Cung Tích Biền

Lần đầu tiên tôi đọc truyện ngắn của Cung Tích Biền đâu vào những năm (1965-1966?). Đó là truyện "Đường Bay Đôi Cánh Thạnh", đăng trên 3 số Nghệ Thuật 47, 48, 49... do nhà văn Mai Thảo chủ trương. Tôi thích ngay vì trong truyện có tên nhân vật  là Thạnh, giống tên bạn tôi, cũng chết trong một cuộc hành quân.

Từ đó, tên Cung Tích Biền đã ghi vào trí nhớ tôi, một nhà văn Quảng Nam viết truyện hay, tôi rất thích và ngưỡng mộ...

Đến những năm sau này, tiếp tục đọc truyện của Cung Tích Biền, xuất hiện ở nhiều nơi, như được đăng trên các nhật  báo, trên các tuần san, nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật SG, hoặc in thành sách...Mỗi truyện trong "cõi văn chương" Cung Tích Biền, đều cho tôi nhiều cảm giác lạ, ý tưởng lạ, dù trong những đoạn viết bình thường, tác giả cũng đưa vào những ý tưởng sâu sắc, để cho chúng ta thấy một cái nhìn xa hơn, triết lý hơn về mỗi hoàn cảnh, mỗi cuộc sống.

Sau đây tôi xin giới thiệu truyện ngắn "Ngoại Ô, Dĩ An và linh hồn tôi", của Cung Tích Biền được đăng trên tuần báo Nghệ Thuật số 23, phát hành tuần lễ từ 19-3 tới 26-3, năm 1966 tại Sài Gòn, VN.

Theo một bài phỏng vấn của Mặc Lâm trên đài Á Châu Tự Do với nhà văn Cung Tích Biền ngày 28 tháng 7 năm 2008, thì "bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật tháng 3-1966 tại Sàigòn, với truyện ngắn Ngoại Ô, Dĩ An và Linh Hồn Tôi."

Dĩ An đây không phải là cái tên của một thành phố thuộc tỉnh Bình Dương, mà là tên một người con gái ở ngoại ô Đà Nẵng. Truyện diễn ra thời gian khoảng năm 1965 hay trước đó. Đà Nẵng có thể nói là một thành phố đón lính Mỹ vào miền Nam trước nhất.

Dĩ An, cô nữ sinh (tên gia đình gọi là Liêm) có cô em gái, là nhân vật xưng tôi trong truyện, tên là Bích Ty, và cậu em trai tên là Lâm, trong một gia đình nghèo ở ngoại ô Đà Nẵng. Hai chị em khi còn là học sinh là hai cô gái đẹp, dễ thương.

Vào đầu truyện là mẫu đối thoại giữa hai chị em, mẫu đối thoại sống sượn làm ta nghe nhói lòng:

"- Sao, mày có chịu không?

- Cái gì vậy hả chị?

- Thì ngủ với thằng cha Lớp-Bơ chớ còn gì nữa.

- Thôi, em ớn lắm chị.

- Ðồ ngu, sức mà ở đó giữ trinh với tiết."

 

 Đó là lời nói của người chị, Dĩ An, nói với đứa em của mình, khi Từ một năm nay chị Dĩ An bỏ nhà ra đi hàng tháng. Mỗi lần trở về chị có tiền đưa cho mẹ tôi. Mẹ tôi hỏi chị, chị nói con đi làm sở Mỹ tận Sài Gòn.

Xã hội Việt Nam những năm 1965, 1966 và sau đó, khi quân đội Mỹ đổ bộ xuống miền Nam Việt Nam... hầu hết mọi nơi, nơi nào có lính Mỹ đóng đều có những người Việt Nam đi "làm sở Mỹ" như vậy.

"Lần này chị về nhà bảo thẳng với tôi cho ông Lớp-Bơ phá trinh lấy ba trăm đô la. Chị bảo: “Mày ở cái xóm chó ghẻ này tới già cũng không có một xu nhỏ bỏ vào hòm!”

Một người con gái con nhà nghèo, cha đạp xích lô, mẹ đi bán chè rong hằng đêm. Dù là một gia đình nghèo, nhưng là một gia đình làm ăn chân chính...

"Dĩ An là chị ruột của tôi. Năm nay chị hai mươi tuổi. Trước đây hai năm chị là một nữ sinh có nhan sắc, tính tình hiền hậu nhất trường. Ngày đó cha tôi thường nói mai sau thằng nào gặp con Liêm (Dĩ An đó) là có phúc lắm. Và cha mẹ tôi đã cho chị Dĩ An tới trường với tất cả cố gắng về vật chất của mình."

Nhưng tại sao bây giờ Dĩ An, lại trở nên hư hỏng như vậy, và càng hư hỏng, tội lỗi hơn, khi đã xúi em gái mình bán trinh có người lính Mỹ có tên Lớp-Bơ để lấy 300 đô la.

Lý do cũng dễ hiểu trong thời đại đó là:

“Em biết không, nhà mình nghèo lắm”. Chị thường nói với tôi như vậy. Năm học đệ tứ có tháng chị đứng đầu lớp. Cha tôi đạp xích lô. Ai không biết điều đó. Nhưng hầu hết ai cũng thương và kính trọng chị."

Truyện đưa đến một lý giải, tại sao hoàn cảnh nào đưa Dĩ An, cô nữ sinh mới 20 tuổi, phải ra nông nổi này? Bởi vì người tình của nàng là Lân. "Lân lớn người, học sinh đệ nhất cùng trường. Anh thi trượt hai năm. Buồn, xin vào Thủ Ðức, mãn khóa về ngành Thiết giáp. Mỗi lần về phép Lân đều thăm chị. Có lần anh xin cưới chị, chị từ chối nhưng chị buồn... Một hôm Lân từ Peiku về thăm chị Dĩ An. Tình yêu nở ra mãnh liệt. Hôm lên đường đáo nhận đơn vị anh mang theo cái niềm vui chị Dĩ An đã nhận lời làm vợ chưa cưới của anh. Nhưng một tuần sau thì Lân tử trận trong một cuộc hành quân lớn. Thi hài anh Lân được chở về thành phố tràn ngập cuộc vui của gái điếm và du đãng. Lân chết trong rừng để thành phố được tiếp tục cơn động kinh của thời đại.

Vì người chồng sắp cưới tử trận nên Dĩ An buồn chán và sa vào trác táng:

Chị bắt đầu lập cái vạch nối giữa sự thất vọng cùng những cuộc trác táng. Năm đó chị tôi thi hỏng. Cha tôi đi làm được nhiều tiền, nhưng chị lại không chịu đi học nữa. Những đứa em tôi được vào học trường lớn trong thành phố. Chị Dĩ An mặc jupe. Tôi dùng dù che mỗi khi ra phố. Xuống đại lộ chúng tôi lẫn lộn trong biển người thời đại. Chúng tôi bị lôi cuốn ngấm ngầm như một người nghiện.

Thế rồi Dĩ An trượt dài vì nỗi buồn, người chồng sắp cưới đã mất trong một cuộc hành quân, Dĩ An trôi theo hoàn cảnh:

Chị Dĩ An thì không có bằng cấp. Với cái chứng chỉ đệ tứ chị chỉ được làm ở sở Mỹ nhờ một người quen bảo lãnh. Nội cái việc bảo lãnh cũng phải trả một giá quá đắt rồi. Thằng khốn nạn nói bóng gió nhưng chị Dĩ An thừa hiểu một cách cay đắng rằng: cho nó ngủ một đêm.

Làm công như chị Dĩ An sao mà nhiều tiền quá. Mẹ tôi vốn hiền từ tin ở con mình. Riêng tôi, tôi vẫn có một linh cảm chua xót về chị Dĩ An của tôi.

- Thực tình mày không chịu ngủ với thằng cha Lớp-Bơ hả? Ðồ con chó, sao mày dại vậy?

Và đứa em trai tên Lâm, một lúc đã hỏi:

 “Chị Dĩ An làm đĩ hả?” Tôi không trả lời được. Em tôi gắt gỏng: “Ai đặt cho chị Liêm cái tên Dĩ An đó?” Tôi cúi mặt đi vào phòng, nước mắt ràn rụa. Em tôi bỏ đi. Buổi chiều tôi thấy nó uống la-de say mềm trong quán. Nó đập lộn với bạn bị cảnh sát bắt về đồn. Tôi đến đồn. Ông đồn trưởng nói thẳng vào mặt tôi:

- Cái gia đình này bầm dập lắm, con thì làm đĩ, thằng thì du đãng.

 

Tóm lại, cuối cùng, trong cái "xã hội tan rả" đó, đã đưa bao số phận con người, phải sa vào làm gái điếm, xì ke, ma túy...

 

Đoạn kết của truyện:

 

Chị Dĩ An vất cho mẹ tôi một chục ngàn rồi đi luôn. Hình ảnh cuối cùng của một người chị trong đời tôi như vậy đó. Tôi buồn và bắt đầu đi lang thang trong những cánh rừng thông bãi biển. Chiều nay tôi âm thầm đạp xe đến cổng một hotel mà cuộc đời chị ném sâu trong đó. Hoàng hôn xuống thành phố. Trên từng lầu thứ ba đèn sáng qua các ô cửa. Chị Dĩ An tôi trên đó. Tiếng cười điên loạn trên đó.

 

*

Cung Tích Biền đã viết nhiều truyện ngắn tương tự như vậy. Vì hoàn cảnh đất nước chiến tranh, đã tạo ra biết bao nhiêu thảm kịch, cho từng con người, từng gia đình và lan ra toàn xã hội. Với văn phong gọn, nhẹ, đối thoại đúng, thực, nên đọc rất hấp dẫn.

Cung Tích Biền tên thật Trần Ngọc Thao. Sinh ngày 8-2-1937, tại quận Thăng Bình, Quảng Nam.

Suốt hơn 65 năm cầm bút, ông khởi viết từ năm 1958 (có một thời gian khoảng 10 năm ông ngưng viết, khi còn ở VN, sau 1975), Cung Tích Biền đã xuất bản những tác phẩm như sau:

Ai Tỉnh Ai Điên, Nỗi Buồn Thắp Sáng, Nàng Tình Rỗng, Trên Ngọn Lửa,
Cõi Ngoài,
Bạch Hóa, Chim Cánh Cụt, Một Thời Lưu Lạc,Tình Yêu Mùa Ảo Ảnh, Thằng Bắt Quỷ, Cung Tích Biền Toàn Tập I, II, III, Xứ Động Vật, Mùa Xuân Cô Mơ Bay, Bạch Hóa, Nhạc Điệu Của Bầy Ong, Đành Lòng Sống Trong Phòng Đợi Của Lịch Sử, Một Thời nên Vắng Mặt.

 

(từ vietmessenger.com)

 

Xem qua những tựa đề sách, như Xứ Động Vật, Đành Lòng Sống trong phòng đợi của Lịch Sử (CTB trả lời phỏng vấn nhà thơ Lý Đợi), Một Thời Nên Vắng Mặt, ta hiểu ngay tác giả muốn  nói gì, suy nghĩ gì với nền chính trị, xã hội VN trong nước hiện tại.

Tôi đồng ý với nhận định của nhà thơ Du Tử Lê, trong tuyển tập truyện ngắn Bạch Hóa, nơi Phụ Lục 2, trang 226, về văn chương Cung Tích Biền như sau:

"Với tôi, Cung Tích Biền là một biệt lệ. Càng bước gần tuổi tám mươi, bút lực của ông càng sung mãn; với một tâm thái bát ngát minh triết, chứa chan những hồi chuông nhân bản, lai tỉnh xã hội càng lúc càng biến dạng..."

Cung Tích Biền và gia đình hiện sống tại Nam California, USA.

 

Trần Yên Hòa