Sunday, September 25, 2022

2606. PHẠM THÀNH CHÂU Truyện ngắn THỤC ANH

                                                                                 

Chúng tôi có sáu đứa con, ba trai, ba gái. Nếu vợ tôi không cằn nhằn thì giờ đây tôi có thể lập được một đội đá banh. Dĩ nhiên con cái đông phải cắm cổ mà cày, thấy mình còn thua con trâu, nhưng bù lại là cái thú được hi sinh cho các con. Thỉnh thoảng ngó lại, ngạc nhiên thấy con mình sao mau lớn quá, áo quần đứa trước đã phải để cho đứa sau mặc rồi. Vợ tôi đi làm về còn phải lo phục vụ chúng. Giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp... Bà la hét đứa nầy, nạt nộ đứa kia rồi lại lầu bầu với tôi đủ chuyện, nhưng tôi chẳng hề bận tâm, tôi biết bà rất thú vị khi làm như vậy, đó là hạnh phúc của bà. Vợ tôi thương con đến độ thương luôn các vật dụng của chúng, từ đồ chơi lúc nhỏ đến quần áo cũ, giấy bút không dùng... bà đều coi như của quí, đem cất vào kho. Bà thương luôn cả đến bạn bè của chúng, đứa nào đến bà cũng mừng rỡ, săn sóc “Con ăn gì chưa? Ngồi xuống đây, bác lấy gì cho con ăn nghe!” Bà giới thiệu tất cả sản phẩm bà có trên bếp, trong tủ lạnh, đứa nào chịu ăn bà thích lắm, nếu khen mấy tiếng “Ngon quá!” là bà phổng mũi cứ “bổn cũ soạn lại”, lần sau lại bắt chúng ăn như thế, chúng cũng khen nhưng có vẻ đau khổ, tôi lại phải nhắc chừng để bà đổi món khác, rồi bà lại mời, lại hồi hộp chờ được khen. Sở dĩ bạn của mấy đứa con trai của tôi thường tụ tập ở nhà tôi vì có mục đích, chúng nhắm vào đứa con gái lớn trong nhà. Nó tên Thục Anh. Khi sinh ra nó, tôi đặt tên mà không hiểu ý nghĩa gì cả. Chỉ vì lúc còn dưới trung học tôi mê một cô bé học lớp đệ ngũ tên Thục Anh. Tuổi mới lớn, yêu chỉ để mơ mộng nên tên gọi là phần quan trọng nhất, vì không lẽ buổi tối đang học bài, bỏ vài phút ra mơ mộng mà lại viết tên người đẹp là Ổi, Ốc hay Cơm, Canh... lồng vào tên mình giữa hình một quả tim?!... Sau nầy, dung nhan cô bé đó, tôi không nhớ rõ, chỉ còn ấn tượng đó là một cô bé ngây thơ, vui tươi, nhí nhảnh, đôi mắt thông minh, trong sáng. Nhiều cô đẹp hay làm kiêu. Cô Thục Anh đẹp nhưng rất tử tế với bạn bè. Tôi thường tìm dịp ngắm cô và yêu thầm. Và tên Thục Anh đã thành một âm vang dịu dàng trong mối tình học trò thuở nào. Tôi lấy tên cô ta để đặt tên cho con gái tôi. Dĩ nhiên vợ tôi đâu biết điều bí mật đó, nên cũng đồng tình “Tên Thục Anh, nghe hay đó chứ!”. Thường con cái trong nhà, mỗi đứa tôi thương một cách. Tôi không khó tính như mẹ chúng. Với con trai tôi nhìn thấy tôi của thời đi học. Cũng mê gái, cũng cãi lời mẹ một cách vô ý thức. Với con gái tôi thấy giống mẹ chúng, đúng hơn, giống bất cứ cô gái mới lớn nào khác. Trong nhà thì lười biếng, chỉ siêng soi gương chải đầu, ra đường làm bộ trang nghiêm, ăn nói nhỏ nhẹ. Riêng con bé Thục Anh thì đúng là yểu điệu thục nữ. Bình thường trông nó thật thảm hại. Người ốm, hơi cao, mặt trái xoan dài, trông hơi xanh xao như thiếu dinh dưỡng, hai mắt to vẻ ngái ngủ. Tóc tai lượt bượt, vướng víu, khi làm bếp, thỉnh thoảng phải dùng cánh tay gạt ra phía sau, nhưng khi ra đường, mái tóc dài đen mượt của nó là một giòng suối chảy xuống bờ vai thon nhỏ, dịu dàng. Còn đôi mắt ngái ngủ, không hiểu nó tô điểm cách nào mà trông vừa buồn buồn vừa ngơ ngác một cách dễ thương. Trang phục của nó cũng đơn giản, những hàng vải mềm, màu trang nhã hòa hợp với khuôn mặt và dáng người, trông thước tha và quí phái khiến các cậu vừa thấy đã xao xuyến nhưng cũng ngậm ngùi vì có vẻ cao sang quá, mình chẳng đáng hi vọng chút nào. Nghệ thuật làm xiêu lòng lũ con trai không phải ngẫu nhiên, nó phải luyện tập gian khổ như một nghệ sĩ tập tuồng vậy. Từ cách ăn mặc, đi đứng cho đến cách chuyện trò. Chẳng biết nó nghiên cứu đâu ra những phương pháp kỳ cục. Trong nhà, nó thường đặt trên đầu một quyển sách, cần gì sai nó, nó cứ lững thững đi trông như người máy. Nó còn ngậm trên miệng một chiếc đũa, khi nói, nó vẫn ngậm chiếc đũa. Nó giải thích “Tập cho miệng lúc nào cũng như mỉm cười với mọi người” Mẹ nó lo lắng, tưởng nó bị tâm thần!  Không ngờ, khi ra đường, đi với các bạn, mới thấy dáng đi, phong thái nó quí phái, dịu dàng như công chúa giữa đám nữ tỳ. Đừng tưởng nó hiền lành mà lầm. Nó gây lộn, đúng hơn, bắt nạt các em nó thưòng xuyên. Chỉ cần nó nghiêm mặt, mắt nhìn chăm chăm đứa nào là đứa nấy xếp re. Với các anh, khi bị la rầy, nó làm ra vẻ yếu đuối, cúi mặt, lặng lẽ khóc như tủi thân là các anh nó bối rối ngay.                                                              

Saturday, September 24, 2022

2605. Tranh TRƯƠNG VŨ Hồi sinh 2, acrylic trên bố, 48” x 36”, thực hiện tháng 9 năm 2022.



HỒI SINH 2:
Acrylic trên bố, 48” x 36”,
thực hiện tháng 9 năm 2022.

Friday, September 23, 2022

2604. BÊN DÒNG POTOMAC • Thơ PCH • Nguyễn Quyết Thắng phổ nhạc • Ca sĩ THIÊN THANH.

Google images

Phiên bản này được thực hiện bởi nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng (Hòa Lan) với tiếng hát của ca sĩ Thiên Thanh (Việt Nam) và phần hòa âm của Nguyễn Khâm.

 

Mới quí thân hữu và các bạn bấm vào đường dẫn dưới đây để nghe/xem:




2603. LỤC ĐỊA THỨ BA VÀ CUỐI CÙNG Truyện ngắn của nhà văn Mỹ JHUMPA LAHIRI (1967-…) Dịch và giới thiệu NGU YÊN

Nhà văn Jhumpa Lahiri (1967-...)

Nilanjana Sudeshna “Jhumpa” Lahiri sinh 11 tháng 7 năm 1967. Tác giả Mỹ sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, gần đây sáng tác bằng Ý ngữ.

Tuyển tập truyện ngắn Interpreter of Maladies (1999) đoạt giải Pulitzer về truyện. Tiểu thuyết đầu tay The Namesake (2003) đoạt giải PEN/Hemingway Award. Tuyển tập truyện ngắn thứ hai Unaccustomed Earth (2008) đoạt giải Frank O’Conor International Short Story Awrad. Tiểu thuyết thứ hai The Lowland (2013)  vào chung kết của Man Booker Prize và National Book Award về truyện. Năm 2018 tiểu thuyết Ý ngữ đầu tiên Dove mi trovo của Lahiri được phát hành. Cô còn dịch toàn bộ Penguin Book of Italian Short Stories, bao gồm 40 truyện.

Năm 2014, Lahiri lãnh National Humanities Medal. Từ năm 2015, dạy học về sáng tác ở đại học Princeton. 



LỤC ĐỊA THỨ BA VÀ CUỐI CÙNG


Tôi rời Ấn Độ năm 1964 với chứng chỉ thương mại và số tiền tương đương trong lúc đó là mười đô la. Suốt ba tuần, tôi đi trên chuyến tàu S.S.Roma, tàu chở hàng của Ý, ở một phòng nhỏ bên cạnh phòng máy. Tàu băng qua biển Ả Rập, Biển Đỏ, Địa Trung Hải, sau cùng đến Anh quốc. Tôi sinh sống ở London, trong công viên Finsbury, chung một nhà với toàn là cử nhân Bengali không một xu dính túi như tôi, ít nhất là một tá, đôi khi nhiều người hơn, tất cả đều phải vật lộn để lập thân ở ngoại quốc.

Tôi tham dự các bài giảng ở L.S.E. và làm việc tạm thời tại thư viện cho qua ngày. Mỗi phòng ngủ chứa vào khoảng ba hoặc bốn người, dùng chung một phòng vệ sinh lạnh ngắt, thay nhau nấu những nồi cà-ri trứng, ăn bốc trên bàn trải giấy báo. Hàng ngày, ngoài công việc thường xuyên, chúng tôi có rất ít trách nhiệm. Đến cuối tuần, chúng tôi mặc đồ ngủ cột dây, đi chân trần, uống trà và hút thuốc othman, hoặc đi xem môn bản cầu (cricket) ở Lord. Một số ngày cuối tuần, căn nhà có nhiều người Bengal hơn, với bọn họ chúng tôi tự làm quen ở các tiệm bán rau trái, hoặc ở trạm tàu ngầm. Họ đến. Cùng nhau nấu thêm cà-ri trứng, chơi Mukesh trên máy quay Grunding, rồi ngâm các đĩa thức ăn bẩn thỉu vào bồn tắm. Thỉnh thoảng một người nào đó trong nhà dọn ra ngoài, sống với vợ, người đã được gia đình ở Calcutta quyết định hôn nhân cho anh. Năm 1969, khi tôi 36 tuổi, chuyện cưới hỏi của tôi đã được sắp đặt. Đồng thời, tôi được mời làm việc ở Hoa Kỳ, trong phòng xử lý của thư viện tại M.I.T. Mức lương rộng rãi đủ để nuôi vợ. Tôi vinh dự được tuyển dụng bởi một trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Tôi lấy thẻ Xanh và chuẩn bị cuộc hành trình xa xôi.

Đến lúc đó, tôi đã đủ tiền đi máy bay. Lần đầu tiên bay đến Calcutta, để dự đám cưới, một tuần sau đó, bay đi Boston để bắt đầu việc làm mới. Trong chuyến bay, tôi đọc tập “Hướng dẫn dành cho sinh viên đến Bắc Mỹ”, dù không còn là sinh viên, nhưng có ngân sách giống như nhau. Tôi biết được người Mỹ lái xe bên phải trên đường thay vì bên trái như người Anh. Họ gọi “lift” là thang máy và bận rộn với điện thoại. “Bạn sẽ sớm khám phá ra, nhịp sống ở Bắc Mỹ khác với ở Anh,” tập sách hướng dẫn cho biết, “Mọi người đều cảm thấy mình cần phải tiến lên tới đỉnh. Đừng mong đợi (rảnh rỗi) uống một tách trà Anh.” Khi máy bay bắt đầu hạ cánh trên phi trường Boston, phi công thông báo tin thời giờ địa phương, tin thời tiết, và tin Tổng thống Nixon tuyên bố một ngày lễ cho toàn quốc vì hai phi hành gia đã đặt chân lên mặt trăng. Một số hành khách hoan nghinh reo hò. Đối diện bên kia lối đi, tôi thấy một phụ nữ đang cầu nguyện.  

Đêm đầu tiên tôi ở lại Y.M.C.A. trong quảng trường Trung Tâm, Cambridge, một chỗ ở rẻ tiền do sách hướng dẫn giới thiệu, nằm trong phạm vi có thể đi bộ của đại học M.T.I. Căn phòng có một giường nhỏ, một cái bàn, một cây thánh giá gỗ treo trên tường. Tấm biển treo trên cửa cho biết tất cả các việc nấu nướng trong phòng đều bị nghiêm cấm. Một cánh cửa sổ vừa đủ nhìn ra đại lộ Massachusetts. Tiếng còi xe chói tai và kéo dài, hết đợt này đến đợt khác. Còi cứu thương và đèn quay chớp vô tận báo tin những trường hợp khẩn cấp. Xe buýt chạy liên tục rầm rầm, cánh cửa đóng mở vang lớn tiếng kêu cút kít suốt đêm. Tiếng động liên miên làm mất sự tập trung, đôi lúc tạo ra sự ngột ngạt. Tôi cảm nhận tận xương tủy như đã từng cảm nhận tiếng kêu réo giận dữ của phòng máy trên con tàu S.S.Roma. Nhưng ở đây không có boong tàu để lên trốn tránh, không có đại dương lấp lánh làm tâm hồn rung động, không có gió thổi lên mặt thật mát, không có ai để cùng trò chuyện. Thật quá mệt mỏi khi mặc đồ ngủ đi qua đi lại trên những hành lang u ám trong Y.M.C.A. Thay vào đó, ngồi xuống chiếc bàn nhìn ra cửa sổ. Sáng hôm sau, tôi đến trình diện nơi làm việc tại thư viện Dewey, một tòa lầu giống như pháo đài màu vàng nhạt bên đường Memorial drive. Rồi mở một tài khoản ngân hàng, thuê hộp thư bưu điện, mua một bát nhựa và muỗng. Đi siêu thị Purity Supreme, lần lựa đi lên đi xuống dọc các quày hàng, so sánh giá cả với những thứ ở Anh. Cuối cùng mua một hộp sữa và hộp mảnh bắp ngào khô (cereal). Đây là bữa ăn đầu tiên ở Mỹ. Ngay cả việc mua sữa cũng mới mẻ, ở London, người ta giao những chai sữa đến tận cửa nhà mỗi sáng.

2602. Thơ LÊ VĂN TRUNG Nắng vàng.

Google images

Áo vàng thu !

Nắng vàng thu !

Em phơi tình mỏng giữa mù sương tôi

Sương hay da thịt lộng ngời

Hồn tôi tan giữa đất trời bừng hương

Thịt da hay lụa hoa vàng

Nở trăm nghìn đóa đài trang mỹ miều

 

Áo vàng bay ! 

Nắng vàng bay !

Tóc như tơ mỏng chảy hoài trong thơ

Mắt là thơ môi là thơ

Vòng tay ảo mộng tương tư hương người

Chim ơi sao ríu ran lời

Hồn mây xưa đã bên trời về chưa

 

Áo vàng mơ !

Nắng vàng mơ !

Năm mươi năm chảy qua bờ bến tôi

Giết nhau chi một nụ cười

Cho thơ tôi nở vạn lời tình đau.


LÊ VĂN TRUNG

Thursday, September 22, 2022

2601. SONG THAO Nhạc Bolero.

 

Tôi không nhớ năm nào nhưng trước 1975, khi bản nhạc Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh đang phổ biến hết cỡ, một nhà trong xóm tôi ở Thị Nghè ngày nào cũng mở oang oang như muốn có lòng tốt cho cả xóm được nghe ké. Tội cho Hàn Mặc Tử, sáng sớm, khoảng 7 giờ mỗi ngày, đều bị đánh thức dậy đi bán trăng. Có lẽ trăng khó bán nên rao bán cả ngày cũng chưa xong. Ngày hôm sau bán tiếp. “Ai mua trăng tôi bán trăng cho / Trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ / Ai mua trăng tôi bán trăng cho / Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò”. 


Tôi không phải là người thích nghe nhạc bolero nên cũng có lúc khó chịu. Nhưng biết nói sao, dân chúng mải mê với chuyện bán trăng, có kêu cảnh sát can thiệp về chuyện làm ồn ào cả xóm cũng không nỡ. Xóm giềng qua lại nhìn mặt nhau hàng ngày, ai nỡ cản chuyện bán buôn của ông nhà thơ Hàn Mặc Tử.


Nhạc bolero ngày đó quả đã lấn át tất cả các loại nhạc khác. Với lời ca trữ tình bình dân, giản dị được viết trên những giai điệu chậm buồn đều đều có pha âm hưởng dân ca, hát bằng giọng thứ quãng âm trung hoặc trầm, nhạc bolero dễ nghe, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người, chất chứa nỗi niềm của lớp người bình dân trong xã hội. Hầu như mỗi người nghe đều tìm được niềm tâm sự hoặc kỷ niệm của mình trong những bản nhạc này. Nhạc bolero có tại miền đất phía Nam trong những năm từ 1955 tới 1975. Theo một tài liệu chưa thật chính xác thì bài bolero đầu tiên của Việt Nam là bài “Duyên Quê” của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ: “Em gái vườn quê /cuộc đời trong trắng/ Dầm mưa giãi nắng mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm / Anh biết mặt em / một chiều bên thềm / Giọng hò êm đềm và đôi mắt em long lánh sau rèm / Ai hát ngoài ao / chừng ngồi giặt áo / Giọng hò êm quá mà anh ngỡ ai rót mật vào lòng / Anh cuốc vườn sau mặt trời trên đầu / Ruộng vườn lên màu vì em ước mong đây đó chung lòng”. Nhưng nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, trong bài báo “Bài Bolero Đầu Tiên Trong Âm Nhạc Việt Nam”, đã cho bài “Nắng Chiều” của Lê trọng Nguyễn, được sáng tác vào năm 1952, mới đích thị là bản bolero đầu tiên của Việt Nam. Nhưng có người phản biện là bài “Nắng Chiều” không phải là bolero mà là rumba-bolero! Tôi mù tịt về nhạc nên chẳng dám có ý kiến.


Nhạc sĩ lão thành Tuấn Khanh, chủ nhân tiệm phở Hoa Soan rất nổi tiếng hiện nay ở Nam Cali, nhớ lại: “Khi ở ngoài Bắc, trước năm 50, 51, 52, 53, 54 bắt đầu di cư vào miền Nam thì chưa có phong trào bolero, hiếm lắm, tìm mãi mới có một bài. Vào đến miền Nam thì thấy bắt đầu từ những người ở Hải Phòng, những nhạc sĩ như Trịnh Hưng, Hoài An, Phó Quốc Thăng, Phó Quốc Lân, rồi Huyền Linh. Khi ở miền Bắc thì chưa nghe được tác phẩm Lam Phương. Ở Hà Nội thì chỉ nghe đài Sài Gòn, chưa thấy bolero và chưa thấy tác giả Lam Phương. Khi vào đến trong Nam thì những bản nhạc của Trúc Phương nổi lên.” Hai ca khúc nổi tiếng khắp hang cùng ngõ hẻm tới các phòng trà, đại nhạc hội và ngay cả ở các vùng quê hẻo lánh là “Quán Nửa Khuya”  của Tuấn Khanh và Hoài Linh và “Nửa Đêm Ngoài Phố” của Trúc Phương.


Việc nhạc bolero phổ biến trong quần chúng bình dân khiến lợi nhuận thu được của các tác giả rất dễ chịu. Nguồn thu lớn nhất là những bản nhạc được in và bán ra dưới hình thức những tờ nhạc rời với giá ai cũng có thể mua được, ai cũng có thể hát được. Các bản nhạc thành công được các nhà xuất bản săn đón. Người ta có thể kể tới các nhà xuất bản: Tinh Hoa, Sóng Vàng, Khai Sáng, 1001 Bài Hát, Thanh Hương, Nhạc Mới, Diên Hồng, quán nhạc Mỹ Hạnh....và được phát hành tại các sạp dọc đường Lê Lợi, Công Lý với giá 7 đồng mỗi bản. Tác giả được hưởng khoảng 50%.


Đời sống tinh thần của tầng lớp bình dân phong phú hẳn lên. Túi tiền của các nhạc sĩ sáng tác nhạc bolero cũng rủng rỉnh hẳn lên. Một Tuấn Khanh khác, nhạc sĩ Tuấn Khanh “trẻ”, hiện sống ở Việt Nam, cho biết là thời đó các nhạc sĩ Hàn Châu, Đài Phương Trang, Mặc Thế Nhân đã thu vào những khoản tiền như mơ. Các ca sĩ, nhạc công thu âm cho các chương trình của đài phát thanh, và sau này cho đài truyền hình cũng ăn theo một cách sung túc. Nhạc sĩ Tuấn Khanh nhớ lại: “Chẳng hạn như, lúc đó giá thu âm một bài hát ở đài phát thanh là khoảng 500 đồng, dành cho nhạc công. Nhạc trưởng và ca sĩ thì vào khoảng 700 đồng/bài. Để dễ hình dung, đời sống vật chất lúc đó là khoảng 14 đồng/lít xăng và một lượng vàng núi thì khoảng 15.000 đồng. Tuy vậy, khi thu cho các hãng băng thì giá tiền cao hơn, ví dụ như danh ca số một thời đó là bà Thái Thanh, thu một bài hát là 5.000 đồng. Giai đoạn đó, một chiếc Honda-dame 50cc nếu mua ngay tại salon vào khoảng 25.000 - 28.000 đồng, còn nếu đặt mua bên Nhật chở qua, nguyên thùng có thể lên đến 36.000 đồng. Nhưng chỉ cần có một bài hát ăn khách thì chuyện mua một chiếc xe thời thượng như vậy rất dễ dàng. Huyền thoại trong giới ca nhạc sĩ về thu nhập, phải kể đến con số thu được hơn 2 triệu đồng cho một bài hát là “Nguyễn Thị Mộng Thường” (Trần Thiện Thanh), kế đến là “Chuyện Tình Thiếu Nữ Tên Thi” (Hoàng Thi Thơ) với thu nhập 1,7 triệu đồng”.

Nhạc bolero còn được gọi là nhạc phổ thông, nhạc đại chúng, nhạc mùi, nhạc quê hương hay nhạc sến, là loại nhạc làm ra tiền, hơn hẳn loại nhạc thính phòng hay nhạc sang. Điều này làm ngơ ngác các nhạc sĩ viết nhạc sang. Nhiều người đã đổi lối viết nhạc để có chút phần trong chiếc bánh hấp dẫn này. Như nhạc sĩ Trường Sa với các bản “Chuyện Tình Người Đan Áo” và “Hành Trang Giã Từ”, Hoàng Trọng với bài “Cánh Hoa Yêu”, Phạm Mạnh Cương với “Thế Rồi Một Mùa Hè”, và ngay cả Phạm Duy với “Ngày Em Hai Mươi Tuổi” và “Anh Hỡi Anh Cứ Về”. Biên giới giữa các nhạc sĩ sáng tác nhạc sang với nhạc sến phai mờ đi. Các nhạc sĩ chuyên chú vào nhạc bolero cũng có vài bản nhạc khá “sang”. Như Anh Bằng với “Nỗi Lòng Người Đi” và “Mất Nhau Mùa Đông”, Trần Thiện Thanh với “Người Yêu Tôi Khóc” và “Chiều Trên Phá Tam Giang”, Lam Phương với “Cho Em Quên Tuổi Ngọc” và “Chờ Người”, Nhật Ngân với “Một Mai Giã Từ Vũ Khí” và “Qua Cơn Mê”.


Nhạc bolero nhịp nhàng, dễ hát, dễ nghe, rất gần gũi với đa số quần chúng. Mỗi bản nhạc như một câu chuyện buồn vui, rất quen thuộc với đời sống thường ngày của chúng ta. Nghe bolero là nhắc nhở tới những kỷ niệm buồn vui của đời người. Tác giả Lê Phi Tân, trong bài “Bolero Chợ Nọ”, kể lại: Hồi sinh viên, có lần cùng anh bạn ở cùng phòng ký túc xá đại học đạp xe về quê mình chơi. Trên đường từ Huế về làng, ghé vô cái quán cà phê chẹp chẹp ở chợ Tây Thành nghỉ chân và từ chiếc loa của quán giọng ca da diết của Quang Lê cất lên: “Đường xưa lối cũ, có bóng tre, bóng tre che thôn nghèo. Đường xưa lối cũ có ánh trăng, ánh trăng soi đường đi. Đường xưa lối cũ có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài. Đường xưa lối cũ có tiếng tiêu, tiếng tiêu ru lòng ai”...Anh bạn là người thành phố vỗ đùi cái bép: “Tau nghe bài ni nhiều rồi nhưng chỉ có trong khung cảnh thôn dã như thế này nó mới thấm”. Tại sao lại chợ Nọ? Đây là một ngôi chợ nổi tiếng của làng Dương Nỗ, ven Huế, thuộc Phú Vang. “Bolero chợ Nọ” ý nói là thứ nhạc quê mùa. Nhưng nhiều khi cái quê mùa của bolero cũng đánh động được tâm hồn của những người thành thị, những người có kiến thức. Thích nhạc bolero nhưng họ mang mặc cảm, không dám cho bạn bè biết.


Tác giả Lý Hữu Phước, trong bài “Nhạc Sến Quê Hương”, diễn tả tâm trạng đó: “Từ năm 1954 đến 1975, âm nhạc miền Nam rất phong phú và đa dạng, gồm đủ thể loại: nhạc tiền chiến, nhạc “sến”, nhạc du ca, nhạc phản chiến, nhạc trẻ, nhạc hùng ca tâm lý chiến, nhạc tình… Hồi xưa lúc còn đi học, chúng tôi thường chê bài nhạc “sến”, cho là không có đẳng cấp (class)! Học sinh, sinh viên thường thích nghe những bài ca của các nhạc sĩ tên tuổi và các loại nhạc Tây phương bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp… Đến nỗi, hồi học trung học tôi thích mấy bài ca của nhạc sĩ Nhật Trường mà không dám công khai thú nhận vì trong đám bạn có đứa cho rằng nhạc của “Kép Nhựt” (xin đừng đọc lái) là loại nhạc demi-sến! Sau này lớn lên, tôi không thể phủ nhận được những giá trị, sự đa dạng và tính sáng tạo của nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh: ít nhứt những sáng tác của ông liên quan đến bao kỷ niệm, những địa danh, chiến trận, giai đoạn lịch sử mà thế hệ chúng tôi đã từng. Hồi xưa chúng thôi thường cho rằng các bạn thích nghe nhạc sến, gọi các bạn ấy “cải lương” hay “sến nương”. Bây giờ nghe lại những bài ca cũ mà nhớ về những chuyện thời xa xưa, những kỷ niệm cũ và cảm thấy lòng xao xuyến và thấm thía được những giá trị của dòng nhạc boléro xưa và từ nay tôi dùng danh từ “nhạc sến” một cách trang trọng”.


Tôi có thời gian thụ huấn ở quân trường Quang Trung. Quanh tôi là những chàng trai còn rất trẻ vừa dấn thân vào đời lính. Họ có những tâm tư riêng mà tôi không có. Bởi vì khi đó tôi đã trên ba chịch cái xuân xanh, chỉ đi thụ huấn chín tuần rồi trở về nhiệm sở cũ làm việc lại.  Thời gian ở quân trường như một giai đoạn ngắn, xa rời công việc thường ngày rồi để lại trở về với đời sống cũ. Trong những dịp đi ứng chiến ban đêm, những chàng trai vừa khoác chiến y thường ngồi hát khe khẽ: “Bạn ơi, mai này ai hỏi đến tên tôi /thì xin hãy đáp khoác chiến y rồi / Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền, có về là khi nước non vui bình yên”. Trong đêm tối, dù không cùng tâm trạng đó, tôi vẫn buồn vô hạn, nước mắt rươm rướm. Bản nhạc “sến” nhưng sao lúc đó đánh động vào lòng người đến như vậy. Chỉ sau ít tuần bộ đồ lính sẽ được tôi trút bỏ nhưng với họ, bộ đồ này sẽ dính vào người họ trong một thời gian dài cho tới khi, nếu may mắn sống còn, họ mới buông bỏ được. Ai bảo nhạc sến, nhất là nhạc lính, không có giá trị của chúng.


Ông bạn Bùi Bảo Trúc cũng có tâm trạng như tôi. Lời ca lãng mạn, hơi bầy đặt, rẻ tiền nhưng tội nghiệp vô cùng. Tôi nhớ một tối lén đi uống bia với người bạn tiễn chàng đi lính. Bài hát ấy được hát lên bởi một người bạn bên những chai bia đầu tiên. Nội trong năm ấy, cả hai đều chết trận. Hai năm sau, tôi đi học xa, mấy năm sau mới về. Tôi không nghe những bài hát ấy nữa. Tôi nghe Beatles, rock, nhạc cổ điển Tây phương, nhạc đồng quê, nhạc dân ca Mỹ. Những bài hát như thế phải có cả trăm bài cho đến nay vẫn còn được hát lên. Hát để nhớ lại những bất hạnh của một thời tuổi trẻ. Những chuyện đáng lẽ phải quên đi. Nhưng những chuyện đó cũng lại là một phần của đời sống chúng ta. Chúng ta phải cám ơn những bài hát ấy mặc dù chúng bi thảm, đau đớn. Chúng vẫn nhắc chúng ta về những thương tích không bao giờ lành trên cơ thể của mỗi người… Nhưng ngày nay, còn đươc mấy người hát những bài hát ấy. Và nếu hát chúng lên thì có được bao nhiêu người xúc động? Cám ơn những bài nhạc lính. Xin lỗi những bài nhạc lính, những bài nhạc có một thời mà không ít người trong chúng ta đã coi thường nó, cũng có thể đã khinh bỉ nó, coi nó là quê mùa, sến… trong khi chúng hay biết là chừng nào. Tôi thành thật xin lỗi những bài nhạc lính, xin lỗi các tác gỉả, những người hát chúng, một trăm ngàn lần. Mà vẫn thấy chưa đủ”.


Nhạc bolero là thứ nhạc viết cho sự buồn bã, cho những chia ly dang dở. Hơi nhạc não nề, thê lương, nghẹn ngào, đau đớn, tiếc nuối. Nó toát ra nỗi bất hạnh nhưng không hận đời, hận người. Những bản nhạc bolero đầu tiên xuất hiện sau 1954 tại miền Nam không thê lương như những bản sau này, khi chiến tranh càng lúc càng khốc liệt, số thanh niên phải rời ghế nhà trường, khoác áo ka-ki, tham gia vào cuộc chiến ngày càng nhiều. Họ ra đi vì không thể đứng ngoài cuộc chiến, dù mỗi cuộc ra đi đều mang một thảm cảnh riêng. Mẹ già, vợ dại, con thơ bị bỏ lại. Nhưng vào tuổi vừa rời ghế nhà trường, họ thường bỏ lại những mối tình với những nàng thiếu nữ ngây thơ trong trắng. Nỗi đau rời xa bao giờ cũng là những chia ly rốt ráo. Ngày mai, biết ra sao!


Sau 1975, nhạc bolero vẫn sống với dân miền Nam qua những ca sĩ hát rong tại các bến xe bến cảng. Dân miền Bắc cũng khoái nhạc bolero. Tuấn Vũ và Hương Lan đã về hát tại nhà Hát Lớn Hà Nội vào tháng 8 năm 2010. Trong suốt nửa tháng trình diễn, khán giả rầm rập kéo tới tuy giá vé cao ngất ngưởng, vé có chỗ ngồi tốt nhất lên tới 1 triệu 700 ngàn đồng mà vẫn hết bay. Mới đây, tháng 6 năm 2022, Trường Vũ cũng đã về Việt Nam trình diễn nhạc quê hương tại bốn thành phố: Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Lạt. Không biết họ có hát nhạc lính không. Tôi nghĩ là không. Nhưng tôi nghĩ những người lính bên nào cũng có những tâm tình như nhau. Có thể những người lính miền Bắc, khoảng cách của họ với người thân xa vời hơn, đời sống trong rừng núi gian khổ hơn, họ cũng có những tâm tình đậm đà hơn qua những bản nhạc lính đầy tâm sự của miền Nam.

 Người lính năm xưa Quan Dương, đang sống ở hải ngoại nhưng vẫn chưa nguôi những khúc nhạc lính.

Nhà vắng chỉ có hai ông cháu mình

Để dỗ Celine ngủ

Ông nội bật tivi mở nhạc lính trữ tình

Điệu bolero vừa sến lại vừa linh

Làm hai ông cháu cùng phê tới bến

Ông nội phê vì nhớ ngày xưa đi chinh chiến

Rừng núi sình lầy nhớ bà nội ở hậu phương

Celine phê vì được ông nội thương

Đầu tựa vào vai ông lim dim đôi mắt

Celine rất ngoan vì Celine không khóc

Ông nội cũng ngon lành giấu nước mắt vào trong

Nhớ một thời mang hoài bão qua sông

Chí lớn không thành Kinh Kha bỏ mình trên đất trích

Ông nội cũng bỏ xứ khi quê hương rơi vào tay giặc

Kiếp lưu vong mới đó đã ba đời

Ai làm cho bolero chơi vơi

Cứ ray ráy xỉa vào tim rợn người không chịu thấu

Ông nội ghì chặt Celine lên bờ vai xương xẩu

Celine cũng lờ đờ như nhạc thấm vào trong

Hai ông cháu mình cứ thế mà lưu vong

Rồi cả hai chìm vào giấc ngủ.


SONG THAO

8/2022

2600. Thơ HOÀNG XUÂN SƠN Quặng mỏ.


Yves Klein (1928-1962)

 

[Đinh Cường&Luân Hoán]*

 

Ừ nhỉ.  không hiểu vì sao viết

tràng giang đại hải tới vô bờ

chữ.  chữ.  chữ.  chữ còn xem bói

chữ nào văng trúng mảnh tình thơ

 

Quặng mỏ đào lên hồn rỗng tuếch

viết trong tư thế hiệp sĩ mù

đường phố không dưng nằm nín lặng

nghe lóc cóc buồn thổ mộ du

 

Gió phẩy linh lan ngoài tơ bụi

chuông nhỏ không rung thơm mầu mai

viết như thơ đuối niềm thu ải

chiếc nắng lung linh cũng biếng cài

 

Chẳng biết khi nào khan dữ liệu

đào bới không trung một vệt chìm

bỗng nhớ chim bay ngoài thu tứ

quặng mỏ không chờ đất đứng tim

 

h o à n g  x u â n  s ơ n

26 tháng tám, 2022.

 

* một thời anh em văn nghệ hay đùa phong chức cho quý ông Đinh Cường và Luân Hoán là Giám đốc Nhà Máy Than

2599. PHƯƠNG THẢO HUYỀN Chuyện tình.

Google images
 

Vừa xuống trực thăng, anh đã nhìn thấy Nô bên cạnh chiếc Jeep chờ sẵn.

- Mình về hậu cứ và tìm gì ăn nha, ông thầy?

 

Nô biết ý anh, lần nào từ hành quân ra, anh cũng phải tắm gội, thay cho được bộ cánh mới, bỏ bao muộn phiền, hiểm nguy sang bên. Rồi cùng Nô ra tiệm ăn, tìm lại khung cảnh an bình miền tỉnh lẻ. Nhưng hôm nay, không được, anh cần về, mọi người đang chờ anh.

- Nô ăn gì chưa?

- Xong rồi, xăng nhớt đủ đầy.

- Vậy mình lên đường ngay, dọc đường tìm ăn cũng được.

 

Vừa nói, anh vừa nhảy lên phía tài xế. Nô lên tiếng:

- Hôm nay tôi lái, ông thầy nghỉ ngơi đi. Rủi có gì...

 

Không hết câu nói, nhưng anh hiểu ý Nô, thông thường những chuyện không tốt hay tìm đến những người đang có chuyện vui. Như mấy ngày trước đây, cuộc chiến trở nên ác liệt, mọi đường liên lạc đều bị cắt đứt. Lần đầu tiên anh cảm thấy lo, vài hôm nữa đám cưới anh rồi, làm gì có phép màu để anh về, chắc cô bé đang mong chờ từng ngày và lo sợ từng đêm, lại không liên lạc được...Vậy mà, sáng nay mọi sự hanh thông (không biết phải do cô bé năn nỉ, vái van Phật Trời nhiều lắm) Trung Đoàn Trưởng bay vào thị sát chiến trận, nhân cơ hội nầy, Tiểu Đoàn Trưởng đã trình sự việc anh cưới vợ, thế là anh được bốc ra. Anh không sao quên được, những cái nắm tay chúc mừng, những đồng tiền mới lãnh cùng chung vui, có người đưa cả lương của tháng. Là bè bạn, đồng đội vào sinh ra tử cùng anh bao năm qua...

 

Nắng chiều từng sợi, từng sợi chia tay. Màn đêm ùa tới, không chút khách sáo. May mà từng hàng đèn đường thi nhau bật sáng, xua tan cái bóng tối đáng ghét kia...Ở một góc khuất, trên chiếc chỏng tre, dựa vào cánh cửa sắt đang khép hờ, một cô gái trẻ ngồi nhìn ra đường, như đang trông ngóng, thỉnh thoảng nhìn vào nhà. Một thiếu phụ bước ra:

- Con vào dùng cơm đi, tối rồi.

- Con không đói. Ba đi ngủ chưa má? (Cô gái trả lời và hỏi)

- Ông ấy đang tính sổ sách, chưa ngủ đâu.

 

Vậy là an tâm, cửa chưa khoá, và cô còn có thể chờ thêm nữa...Cô ấp úng:

- Nếu anh ấy chưa về, ngày mai làm sao đây?

- Thì vẫn phải tiến hành thôi. Thiệp mời đã gởi đi, mọi người đã trả lời.

- Không có chú rễ, con...

 

Tiếng xe ngừng, một bóng người bước ra, đi nhanh về phía cô.

Cô chỉ nhìn thấy chiếc Jeep đang ngạo nghễ đậu trên đường, bộ đồ trận nhuốm bụi đường, gương mặt hốc hác với nụ cười quen thuộc...đã đi vào ký ức của cô.

 

Cô nhìn bàn tay má đang gạt nước mắt, cùng các dì, bè bạn ra về, đến hút mắt. Cô thấy nghẹn lòng, như đang bị bỏ quên, cô đơn quá, nhưng dằn lại, không dám khóc. Đến chiều, khi ba và anh đưa mọi người trở về khách sạn, nhà vắng lặng, một mình thu dẹp, tự dưng nước mắt đâu tràn về, như con suối nhỏ...Cô khóc hả hê, khóc mà chẳng biết sao mình khóc. Một bàn tay vỗ nhẹ vào vai, cô quay nhìn, nụ cười anh âu yếm:

- Thay đồ đi, anh chở em về nhà.

 

Cô tròn mắt. Anh hiểu ý:

- Chị Năm đồng ý rồi.

 

Cô như con sáo sổ lồng...Bay cao.

 

Vừa đến nhà, để mặc anh với những câu hỏi của ba má. Cô chạy vụt lên lầu, vào ngay phòng ngủ, ra phòng khách, đến tận sân thượng. Tay mân mê từng cánh lá, sờ soạng từng vật trong căn phòng nhỏ, miệng thầm thì câu xin lổi, sao mới một hôm, mọi thứ đều hửng hờ, căn phòng lạnh tanh giận dỗi. Nước mắt lại rơi, rơi không kềm hãm. Cô khóc như chưa từng được khóc, như bao uất hận trong lòng, giờ đang trào dâng. Lạ thật, cô đâu bị ức hiếp, cô tự nguyện yêu thương, cô đến với anh thật ngọt ngào mà. Cô cũng chẳng biết vì sao mình khóc nữa. Chỉ biết rơi nước mắt một cách thật tự nhiên, thật dễ dàng!!!

 

Sau đó, hai đứa bị ba má rầy một trận, vì...chưa đầy ba ngày đã về nhà gái.

 

Đám cưới xong là anh đi...

 

Anh đi biền biệt suốt mấy tháng trời, không tin tức gì. Chiến trường An Lộc đang hồi khắc nghiệt, chiều nào cũng tiếng rao báo mới, với tin cập nhật vang lên khắp phố. Cô trông từng cánh thư, đọc từng trang báo, cầu mong và van vái anh được bình an.

 

Và cô đã nhận được thư. Cánh thư không địa chỉ người gởi, cánh thư không phải bút tích quen thuộc. Cầm trên tay mà cô thấy hoang mang, tin tốt hay tin xấu??

 

Run tay xé nhẹ bao bì, một mảnh giấy nhỏ cùng hai tấm ảnh rơi ra:”Anh bình yên. Nhờ anh phóng viên chiến trường gởi dùm tin cho em”.

 

Chỉ vỏn vẹn mấy giòng chữ viết, nhưng sao cô thấy quá đủ, anh an lành là được rồi, đủ rồi. Nhìn hai tấm ảnh, khuôn mặt thân thương gần gũi, cô yên tâm hơn, bởi tình hình chiến trường không sôi động nữa.

 

Cô chờ đợi ngày anh về phép sau trận chiến An Lộc, nhưng anh không về và lao vào một trận chiến khác.

 

Đời sống chinh nhân đầy kham khổ, mà cuộc sống chinh phụ cũng đâu thanh thản, ngày ngày cầu mong mọi sự an lành, vái van hết lần nầy sang lần khác. 

 

Buồn! Đợi chờ! Vui với vài ngày phép...

 

Rồi.

 

Buồn! và Chờ đợi! Tiếp tục.

                 

Phương Thảo Huyền

Wednesday, September 21, 2022

2598. Thơ ĐẶNG KIM CÔN Năm lăm năm làm thơ yêu em.

Google images

Năm lăm năm làm thơ yêu em

Lòng chưa mỏi sao sức cùng… đã mỏi

Hỏi cuối đường chưa đi, sao vội tới

Tay tìm tay như chực lạnh đêm đêm

 

Nghe thời gian gõ từng nhát búa

Dội lại kiếp nào mấy thuở yêu thương

Dội tới kiếp nào cho anh trả nợ

Bước tiếp ngày mai chậm những con đường

 

Ngày mai rồi xa tít tận… ngày mai

Có kiếp nào cũng là hai người khác

Em đâu, anh đâu từ muôn trùng lưu lạc

Mấy mặn nồng hỏi có nhận ra ai?

 

Cứ tin như kiếp này chưa đủ

Để ngỡ ngàng sao ngắn quá bài thơ

Bài thơ còn bao điều chưa nói

Hẹn về đâu thì cũng chỉ mơ hồ

 

Nghe trăm năm nhích từng bước vội

Nhắc anh yêu từng giây phút bên em

Vòng tay lơi, lần tìm vòng tay ấm

Ngăn nước mắt nhau không ướt kịp vai mềm.

 

Em bỏ qua anh năm lầm mười lỡ

Mấy kiếp rồi lời hứa thả mây bay

Nếu còn có kiếp nào để hứa

Em có đợi anh đâu đó… một ngày?

 

Níu bóng chiều bay bàn tay chấp chới

Thấy mai kia bóng tối vọng ngàn sau

Thấy mắt em nhìn xa đâu vời vợi

Muốn nói anh nghe, nói hết, anh đâu

 

September 21, 2022