Saturday, March 6, 2021

1952. ĐINH CƯỜNG Tháng chín, đoạn ghi trên napkin ở Starbucks Coffee

ĐỂ NHỚ ĐÀ LẠT
Sơn dầu trên giấy, 16"x20", dinhcuong

Đinh Cường

THÁNG CHÍN,

ĐOẠN GHI TRÊN NAPKIN

Ở STARBUCKS COFFEE

 

Sáng trời mây mù

người băng qua cánh rừng

lá vàng đầy dưới chân

mùa thu sao

ngọn gió mai cũng khác

se lạnh .

những chiếc áo ấm năm rồi

chưa giặt 

mấy chiếc mũ, đôi găng tay

foulard cho mùa rét mướt

 

nhớ xưa Đà Lạt

quanh năm với chiếc jacket

màu xanh rêu nhà binh

rộng thùng thình

cùng chiếc pipe đẹp

anh Trần Lê Nguyễn cho

là đốm lửa ấm

trong đêm sương mù dày

đi bộ lên con dốc

qua nhà thờ Con Gà

 

rẽ mặt về phía đường Rose

có căn phòng thuê

có ngọn đèn vàng để cháy cả đêm

xác bao nhiêu là vỏ

bao thuốc Bastos xanh

Đỗ Long Vân chất đống

Trịnh Công Sơn từ B’lao lên

ở lại. uống rượu cùng

Nguyễn Xuân Thiệp

có Trịnh Xuân Tịnh em Sơn

lên buôn rau sớm gởi về Sài Gòn

 

Sơn hát ca khúc mới

tôi sống cùng mùi sơn dầu

thơm như những bó nhựa ngo

mua của  mấy người Thượng

cuối tuần từ trong rừng

đem ra ngồi bán hay đổi

thứ gì đó. lon muối chẳng hạn

bên lề đường khu chợ Hoà Bình

những cây lan rừng còn đọng sương

 

Đà Lạt. nơi Trần Hoài Thư sinh ra

Đà Lạt nơi tiếng hát tiếng đàn thùng

đắm say Lê Uyên Phương

Đà Lạt với Phạm Công Thiện

căn phòng hẹp dưới hầm đường Yagut

Đà Lạt thời Khánh Ly mới ra hát ở Night Club

 

và Đà Lạt một thời của Nguyễn Xuân Hoàng

của Hoàng Ngọc Biên. của Nguyễn Nhật Duật

của Nguyễn Thị Hoàng của Nguyễn Thị Thanh Sâm

còn có Phạm Cao Hoàng

đi dạy trường ở gần thác Gougah

Bùi Giáng được mời một lần lên đó đóng phim. mới lạ

bao nhiêu bạn bè ghé qua miền đồi núi

với mùa hoa quỳ vàng. mùa hoa mimosa vàng

và không quên ghé qua cà phê Tùng

còn cho đến nay. ông bà đều đã mất .

 

sáng nay đi bộ sớm ra Starbucks ngồi

trời mù. mây xám giăng đầy bầu trời

không có cánh chim nào bay

nhìn qua khung cửa kiếng. nhớ vẩn vơ .

lại ghi vẩn vơ. tuổi già hay nhớ về kỷ niệm …. 

 

Virginia, September  9, 2014

ĐINH CƯỜNG

(1939-2016)

1951. SONG THAO Rượu đế

Nguồn ảnh: Google image

Rượu là thứ quen thuộc với giới viết lách chúng tôi. Hiếm tay cầm bút mà miệng không nuốt rượu. Rượu như là một chất keo sơn gắn bó chặt chẽ.


Rượu mời ta rót cho ta.

Bạn gần không tới, bạn xa chưa về

Rót nghiêng năm tháng vào ly

Mắt nheo bóng xế, tay che tuổi buồn


Đó là lời buồn với rượu của Thanh Nam. Rượu của Thanh Nam cũng như rượu của chúng tôi không phải là rượu đế. Có thể là whisky, cognac hay cái thứ chưa được gọi là rượu nhưng vẫn tiếm danh rượu là bia. Bia không phải thứ nước uống của Mai Thảo. Phải là cognac. Mỗi khi có dịp qua Cali, tôi vẫn thủ một chai cognac chai mờ tặng Mai Thảo. Dù sao tôi cũng là người tới từ Montreal, nơi có họ hàng với Pháp, quê hương của cognac.


Có người cho rượu là chất nước giải buồn. Trong phim bộ Đại Hàn, nhân vật dù nam hay nữ, cứ thất tình là mượn rượu xua đuổi nỗi buồn. Thất tình dĩ nhiên là buồn, buồn quá mạng đi chứ, nhưng chẳng thất tình cũng nhiều khi buồn. Như bị nhốt trong nhà vì Covid! Buồn chán, cô đơn, căng thẳng, thất nghiệp, tương lai âm u mờ tối khiến tay vớ chai rượu xua đi nỗi chán chường. Bệnh viện Keck của University of Southern California vừa cho biết là trong năm 2020 số bệnh nhân nhập viện vì đau gan liên quan đến rượu tăng 30% so với năm 2019. Tương tự như vậy, các bệnh viện của các Đại học University of Michigan, Northwestern University, Harvard University và hệ thống bệnh viện Mount Sinai Health System ở thành phố New York cũng cho biết số bệnh nhân nhập viện vì đau gan liên quan đến rượu đã tăng tới 50% kể từ tháng 3 năm 2020, tháng Covid bắt đầu tác yêu tác quái ở Mỹ và khắp nơi trên thế giới.


Rượu với tôi cũng là loại tri kỷ. Ở Việt Nam thì bia làm chuẩn. Qua tới bên đây, vang đỏ tiếm quyền của bia. Chẳng phải vì tôi phụ bạc bia nhưng căn bệnh gout của tôi bị ông lang tây Trang Châu cấm cửa với bia. Đóng một cánh cửa, ông mở cho tôi cánh cửa khác. “Toa uống vang đỏ được!”. Từ đó, tôi lên đời, thay bia bằng vang đỏ. Khi Covid lò dò đến, trong nhà chẳng còn chai rượu đỏ nào, ra ngoài thì ngại con vi khuẩn tàn bạo bám theo, vậy nên còn chai cognac để dành đã lâu, tôi mang ra xử. Covid chưa hết, cognac đã không còn. Nhìn trong bếp thấy có chai rượu nấu ăn, định mang ra chơi tiếp nhưng bị rầy rà nên thôi. Không biết rượu nấu ăn, cũng 45 độ cồn, có uống được không, tôi chẳng dám đùa. Đúng là dân chết nhát. Ngày còn ở Việt Nam, ông bác tôi, dân nghiện rượu thứ thiệt, chuyên uống rượu đế, có lần bí quá đã uống tới cồn 90 độ! Tôi đã lè lưỡi thán phục vì lúc đó tôi chỉ chơi toàn bia. Sau 1975, kẹt lại, bia cũng leo lên hạng quý phái, chúng tôi toàn chơi bia tươi nhạt phèo. Có lần uống bia mà chua miệng, Khánh Giang, chàng ký giả bợm rượu, đã kéo tôi đi nhậu rượu đế. Rượu đế hồi đó bán lềnh khênh, góc đường nào cũng có. Rượu trong veo, nghe nói có pha thuốc rầy, nhưng khi uống nhắm mắt nên có pha hay không, cần chi biết. Lần đầu đổ “nước mắt quê hương” vào miệng, tôi say nhè, đi đứng không vững. Khánh Giang dìu tôi về nhà, ngồi mãi không đứng lên nổi. Từ đó cạch tới già!


“Nước mắt quê hương” là tên khác của rượu đế. Cái tên nghe chất ngất tình tự dân tộc này được lính miền Nam trước đây rất khoái. Tại sao gọi là “nước mắt quê hương”, tôi cũng không biết. Thôi thì nghe lời xúi “cái gì không biết cứ vào google”, tôi gú-gồn. Tác giả Phùng Annie Kim lý giải như thế này: “Có những bài vè nói về dân nhậu khi say tưởng mình là con ông trời, “nhìn lên cây bưởi còn non / mấy thằng uống rượu là con Ngọc Hoàng”, cho nên theo tôi, Ngọc Hoàng ngán ngẩm vì ở thế gian tham nhũng tràn lan, đạo lý suy đồi, tình người điên đảo, giới trẻ Việt Nam bây giờ nhậu nhiều quá, sáng say chiều xỉn thành một thứ quốc nạn. Cám cảnh vì tương lai đất nước, dân tộc nên “Ngọc Hoàng ngồi tít ngai vàng / Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi”. Có lẽ vì thế rượu đế còn có tên gọi rất văn chương là “nước mắt quê hương” chăng?”.


Thấy thì ghi lại như vậy nhưng tôi nghĩ bốn chữ “nước mắt quê hương” có từ thời xưa, rất thịnh hành trong giới lính tráng, nên nguồn gốc có lẽ phải xưa hơn. Có lẽ tác giả Nam Sơn Trần văn Chi có lý hơn khi lý giải: “Xưa trong thời chiến tranh, cái sống cái chết đến với bao thế hệ thanh niên miền Nam bất cứ lúc nào, gặp nhau hôm nay rồi ngày mai không còn gặp lại! Chính sự thể đó đã đưa thanh niên tới những quán nhậu, tìm đến rượu đế, rượu thuốc nhiều hơn. Rượu vào lời ra, kể chuyện người yêu, chuyện mẹ già, chuyện tình đời và chuyện chiến tranh. Bao chàng trai trẻ mềm môi, chảy nước mắt bên ly rượu. Không biết khóc vì rượu hay vì thân phận, hay vì cả hai? Rượu đế gọi là “nước mắt quê hương” có từ đó và được lưu truyền cho tới nay”.


Tôi vốn có tính sắc mắc nên lại thắc mắc: thế còn tại sao gọi là rượu đế? Muốn rõ ngọn ngành phải trở lại từ thời Pháp thuộc. Năm 1858, khi người Pháp đặt chân tới Việt Nam, việc sản xuất rượu vẫn được tự do. Nhà cầm quyền bảo hộ chưa sản xuất rượu công nghiệp. Họ khuyến khích người dân nấu rượu để thu thuế. Nhưng khi nhà cầm quyền bắt đầu sản xuất rượu bằng những nhà máy quy mô, họ cấm dân nấu rượu. Nếu lén lút nấu, coi như rượu lậu. Họ phân phối rượu do công ty sản xuất, gọi là rượu ty, về mỗi vùng theo dân số. Các quan chức tại địa phương ép người dân tiêu thụ rượu. Họ ấn định số rượu phải mua khi trong nhà có ma chay, cưới hỏi hoặc khi mỗi làng hay mỗi huyện, tổng, xã có những ngày hội dân gian. Quan chức địa phương cứ theo quy định mà thi hành. Nhưng cấm thì cấm, người dân vẫn lén lút nấu rượu và lén lút mua bán với nhau. Rượu lậu có nồng độ cao, cay và thơm hơn rượu ty, nên dân chúng ưa chuộng hơn. Vì sản xuất lén lút nên rượu lậu phải giấu trong những lùm tranh, lùm đế xa nhà. Mỗi khi lính đoan đi ruồng bắt, người ta phải bê từng nồi rượu ra ngoài đồng ruộng, vùi trong đồng cỏ hoang dại mọc toàn cây đế, một loại cỏ như cỏ năng, cỏ lác, cỏ tranh hay lau sậy mọc cao lút đầu. Tên gọi rượu đế phát xuất từ loài cỏ đế này và chỉ dùng trong Nam.


Rượu lậu ngoài Bắc được gọi là rượu ngang vì rượu được tiêu thụ theo kiểu đi ngang về tắt. Tôi đọc được trên mạng một trong những kiểu tiêu thụ rượu…ngang. Chẳng biết hư thực ra sao. Thôi thì cứ kể ra đây, coi như chuyện vui. Có thì vui thiệt, không có thì coi như một chuyện tiếu lâm. Đằng nào cũng vui. Các cô thôn nữ trong vùng sản xuất rượu quẩy gánh hàng đi bán rong. Hàng của cô gồm rau trái, hoa quả, trứng gà, trứng vịt rất vô tội. Nhưng những bậc mày râu đã quen với việc mua rượu, nhác thấy bóng các cô, xà vào mua thứ rượu ngang một cách…hiên ngang. Rượu đâu mà cô bán? Rượu trong ngực cô. Họ làm hai cái bao mềm lớn bằng trái bưởi, miệng bao là một cái ống nhỏ và dài. Họ nhét hai trái rượu vào ngực, hai cái ống được bẻ kín vào bên trong. Khi có khách mua rượu, cô bật cái vòi ra cho khách ngậm miệng vào hút. Uống rượu kiểu này có cái thú như uống sữa. Nhưng các cô tính tiền khách bằng cách nào. Tính từng hụm. Chỉ cần nghe khách nuốt ực một cái là các cô đếm. Mỗi cái ực là đơn vị tính tiền. Càng ực nhiều càng móc hầu bao nhiều. Cách bán rượu này được gọi là “rượu ực”! Không biết có phải câu ca dao: còn trời còn đất còn non / còn cô bán rượu anh còn say sưa, là để chỉ vào trường hợp này không?


Rượu đế được từng gia đình sản xuất nên chất lượng khác nhau. Cũng như chúng ta mua bánh chưng ngày tết, người này gói ngon, người kia gói không ngon. Tốt nhất là cứ mua chỗ quen thuộc cho chắc ăn. Rượu của vùng này hay vùng khác chất lượng khác nhau cũng vậy. Cách nấu rượu thường na ná giống nhau nhưng khẩu vị của dân nhậu khác nhau. Dân nhậu thường chia ra hai miền rượu: rượu đậm và rượu lạt, còn gọi là rượu cao độ và rượu thấp độ. Dân sành điệu có tiếng lóng riêng: rượu miệt trên và rượu miệt dưới, lấy phà Mỹ thuận làm ranh giới. Từ phà Mỹ Thuận ngược lên Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Tây Ninh, Sài Gòn là miệt trên. Từ phà Mỹ Thuận xuống tới Cà Mau, U Minh là miệt dưới. Rượu của dân miệt dưới gần giống như rượu của dân xứ Quảng ngoài Trung: màu trắng đục gần bằng nước vo gạo, độ nhẹ và thoang thoảng mùi hèm. Vì độ rượu nặng nhẹ nên cách đong rượu của hai miệt cũng khác nhau. Miệt dưới đong từng lít hay can nhựa loại 20 lít. Miệt trên đong bằng xị. Khi uống cũng có phong cách khác nhau. Dân miệt dưới uống đế bằng chén ăn cơm hoặc ly lớn, thứ dùng để uống nước ngọt. Miệt trên uống bằng ly nhỏ.


Dân nhậu, dù miệt trên hay miệt dưới, đều phải công nhận thứ đế xuất sắc nhất là đế Gò Đen thuộc tỉnh Long An. Dân Gò Đen có kinh nghiệm nấu rượu từ cả trăm năm trước. Họ dùng nếp và men gia truyền nên rượu có vị mà các vùng khác không có được. Nếp là loại hạt tròn, mẩy, có mùi thơm, trắng đục đều, được trồng tại địa phương. Nếp ngon được nấu thành cơm nếp, để nguội rồi rắc men. Men được mài bằng rễ thảo mộc hoặc men bí truyền được chế từ các vị thuốc bắc như quế khẩu, đinh hương, trần bì, quế chi, đại hồi cộng thêm với nhãn lồng, trầu hương. Rượu ra lò thường được cho vào hũ sành, bít kín, ngâm xuống ao khoảng trăm ngày mới vớt lên uống. Rượu Gò Đen chân truyền phải được nấu bằng nước lấy tại Gò Đen, trong khí hậu của Gò Đen mới là rượu đúng cách. Đó là chuyện ngày xưa, ngày nay rượu Gò Đen đã trở thành rượu thương mại, nhạt phếch, mất gần hết hương vị đặc trưng của vùng đất này.


Đế hay nước mắt quê hương là thứ dân miệt vườn đi xa thì nhớ. Có đĩa mồi ngon trên mâm cơm là cái bụng ước chi có chút đế Gò Công thứ thiệt. Hai vợ chồng ông Võ Đắc Danh qua Mỹ thăm con, bị dịch Covid níu kéo không cho về. Bà Thúy Dư vốn gốc nông dân miệt Đầm Cùng, Cà Mau, ra chợ mua rau, tiền Mỹ tính ra tiền Việt Nam, sót ruột không muốn mở ruột tượng. Bà quyết định tự trồng tự ăn, biến khu vườn tại nhà ở Torrance, California, thành một vườn rau gồm cà tím, khổ qua, mướp, đậu rồng, bông bí, đậu bắp, rau đắng, dưa leo, hành lá. Ngoài những thứ thông thường này, bà còn trồng cả ngải bún, lá cẩm là những thứ đặc sản của miền Tây. Rồi chao, mẻ, bà gây được hết. Theo yêu cầu của nhiều bà con, bà chỉ dẫn cách trồng trên trang Youtube mang tên “Nhật Ký Covid Mỹ”, được YouTube trả tiền. TYiền này bà mang về làm cầu cho dân chúng ở Việt Nam. Tưởng chỉ kẹt lại ít ngày tại Mỹ, ai ngờ giáp năm vẫn chưa có lối về. Sẵn vườn nhà đầy đủ các loại rau củ quả, bà Thúy Dư trổ tài nấu những món ăn Việt Nam. Bà còn hào phóng phổ biến cho mọi người cách nấu giản dị và thơm ngon. Ông Hai Lúa Võ Đắc Danh được thưởng thức đủ món ngon quê nhà tại Mỹ. Ăn ngon phải đi với rượu ngon, whisky, cognac sẵn đó nhưng ông lại thèm nước mắt quê hương. Đào kép phải đúng tuồng mới đã cái miệng! Thiệt là một mơ ước khó thực hiện.


Nghe tréo ngoe như vậy nhưng coi bộ cũng không tréo ngoe lắm. Vì dân ta đã sản xuất được rượu đế ngay tại Mỹ. Đế made in USA! Không phải thứ thủ công lẹt bẹt mà máy móc hiện đại đàng hoàng. Đó là lò rượu “Su Ti Craft Distillery” tại vùng Dallas-Forth Worth, tiểu bang Texas. Cái tên nghe không ra tiếng Việt nhưng đó là tiếng Việt. Hai ông chủ của lò rượu đế này tên Đinh Trọng Súy và Ngô Thời Tiến. Họ cắt hai cái tên Súy và Tiến thành “Su Ti”. Chắc cho Mỹ dễ đọc. Anh Súy sang Mỹ từ năm 1975 khi còn nhỏ. Anh là dân Nam Định, gia đình di cư vào Nam năm 1954. Mẹ anh sinh trưởng trong một làng làm rượu, cả làng biết nấu rượu, nên bà cũng biết nấu chất cay này. Anh còn nhỏ nên hoàn toàn mù tịt về cách làm rượu đế. Qua Mỹ, anh học và ra trường làm kỹ sư ngành viễn thông.


Năm 2011, anh Súy quen một anh bạn gốc Cái Răng, nhà ở Cần Thơ, có nghề nấu rượu. Anh tò mò học hỏi và bắt đầu thử nghiệm cất rượu lấy. Anh thử tay nghề như vậy vì khi đi dự tiệc anh hay nghe mấy ông già thắc mắc sao cứ phải uống rượu Tây hoài, không tìm đâu ra rượu đế. Anh lên mạng tìm hiểu thêm về các loại men, gạo và phương cách nấu rượu của nhiều dân tộc khác nhau. Khi thực hành, anh mua đủ các thứ men của Việt Nam, Âu châu và Mỹ để thí nghiệm. Cũng phải mất vài năm tìm tòi các loại men và gạo, anh mới tạm nấu được thứ rượu vừa ý. Khi đi dự tiệc, anh mang rượu tự chế tới mời mọi người uống và cho ý kiến. Nhiều người khen ngon khiến anh nức chí. Một trong những người khuyến khích anh nên theo đuổi đam mê của anh chính là anh Ngô Thời Tiến. Anh Tiến là kiến trúc sư hành nghề tại Dallas và là anh em cột chèo với anh Súy.


Hai anh em cột chèo quyết định hùn vốn xây lò rượu tại Forth Worth vào năm 2016. Bước đầu họ gặp khó khăn vì luật lệ khắt khe của liên bang, tiểu bang và thành phố. Họ kiên nhẫn từng bước và cuối cùng lò rượu ra đời.


Nhờ con mắt kiến trúc sư của anh Tiến, lò rượu được xếp đặt rất hợp lý, gọn gàng và mỹ thuật trong một diện tích chỉ vỏn vẹn 2 ngàn square feet. Sản phẩm đầu tay của lò là Rượu Đế Ông Già và rượu mạnh Lion 45, một thứ whisky Việt Nam. Rượu đế “Ông Già” được làm từ một loại gạo thơm đặc biệt Jazzmen của miền Nam Lousiana. Nhờ loại gạo này mà rượu có một hậu vị rất thơm. Men Việt Nam có nhiều mùi thuốc Bắc nên, để rượu có thể phổ biến với người bản xứ,  họ dùng men của Mỹ cho rượu “Ông Già” và một thứ men mới của Âu châu cho “Lion 45”. Anh Súy tiết lộ về kỹ thuật làm rượu của anh. Rượu cất xong sẽ được nếm thử và đo nồng độ. Mỗi vụ rượu được đánh số và ghi ngày tháng cẩn thận. Chỉ những vụ nào đạt đúng tiêu chuẩn về hương vị cũng như nồng độ mới được mang ra bán. Vì luật liên bang quy định rượu mang ra bán phải có phòng chứa riêng và phải nộp thuế trước nên phải cẩn thận trước khi quyết định tung ra thị trường. Trong tương lai lò rượu sẽ làm thêm rượu nếp than.


Mấy ông bạn nhậu của tôi nghe tới rượu đế made in USA đã khoái chí tử. Anh nào cũng nôn nóng hỏi rượu bán ở đâu và giá có mắc không. Rượu bán ở...lò rượu. Vì mới chỉ là lò nấu rượu lẻ nên hai thứ rượu “Ông Già” và “Lion 45” chưa được phép gửi các hãng chuyên chở mang đi bán được. Muốn mua rượu chỉ có cách quá bộ tới lò rượu, tiền trao rượu lấy. Giá khá mềm: từ 35 đô tới 45 đô một chai tùy theo vụ. Trong khi khách hàng vẫn phải thân chinh hoặc nhờ bè bạn tới mua ngay tại lò rượu, lò rượu tặng chúng ta thơ…tạ lỗi:


Tết ta cho đến Tết tây

Tiệc tùng cưới hỏi lấy chi làm quà?

SuTi nức tiếng “Ông Già”

Uống ly rượu đế chạy ba quãng đồng!


SONG THAO

3/2021


1950. HOÀNG NGỌC NGUYÊN: VÒNG ĐAI XANH - MỘT CÁI CHẾT ĐƯỢC BÁO TRƯỚC



“Vòng Đai Xanh” của Ngô Thế Vinh được xem là một tiểu thuyết chiến tranh, được viết rất thực bởi một quân y sĩ xông pha ngoài trận tuyến. Cuộc chiến tự vệ của người dân Miền Nam chống xâm lược của Cộng Sản Miền Bắc kéo dài đến 15 năm (1960-75), nếu không nói đến hoạt động khủng bố, phá hoại 2-3 năm trước khi chiến tranh chính thức khai mào, cho nên chúng ta không thiếu những tác giả viết về cuộc chiến đó, cảm khái từ những mất mát, đổ vỡ, tan hoang của con người, của tuổi trẻ, của gia đình, của xã hội, của đất nước vì chiến tranh. Không thiếu, nhưng chắc không thừa, không đủ khi nhìn đến “quy mô” của cuộc chiến, chiều dài của nó về thời gian và không gian, cùng với những biến chuyển phức tạp qua các thời kỳ. Mặt khác, phần lớn những tác giả của thời đó, thường là quân nhân (và một số người không phải là “fan” của cuộc chiến đó), chỉ có phương tiện, thời gian và cảm hứng để viết những tác phẩm ngắn. Và bình thường, những truyện ngắn thường chỉ phơi bày những bi kịch thời chiến mà không có bất kỳ phê phán “tội ác chiến tranh” nào. Tưởng như những người phản chiến mượn ngòi bút để thể hiện ý chí của mình. Chúng ta không có một đại tác phẩm như “Chiến tranh và Hòa bình” của Leo Tolstoy. Hay “All Quiet on the Western Front” của Erich Maria Remarque, hay “A Farewell to Arms” của Ernest Hemingway. Hay “The Naked and the Dead” của Norman Mailer...

         VĐX, một phần nào đó là một tiểu thuyết chiến tranh, ra mắt vào năm 1970. Tác phẩm này được trao Giải thưởng Văn học Toàn quốc năm 1971 - giữa khi tác giả đang lặn lội trong một đơn vị Biệt kích Dù vào sinh ra tử trong vùng cao nguyên rừng núi biên giới thuộc Vùng 2 Chiến thuật. Ngô Thế Vinh không thể từ bỏ đơn vị để về Saigon nhận giải và hiểu rõ hơn vì sao mình được vinh dự đó. Khó kiếm ra tài liệu cho biết rõ hơn giải thưởng này đã được tổ chức thế nào, giám khảo là những ai, và ai đã từng được giải thưởng đó... Trong trí nhớ rất khả nghi của một người cao niên tuổi già sức yếu, tôi nghĩ đến những bậc trưởng thượng trong làng văn học Miền Nam như Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn... Trong những người đã nhận giải, tôi còn nhớ được nhà văn Trang Châu, cũng là một y sĩ tiền tuyến. Giải thưởng của Ngô Thế Vinh là vào năm 1971, cho nên có thể kết luận đây là Giải thưởng Văn học Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã lập ra từ năm 1969 (?), thay cho những giải đã có trước đó.

Tôi đã cố tìm đọc trong ấn bản mới nhất của VĐX để hiểu được lý do vì sao ban giám khảo đã chọn tác phẩm này để trao giải văn chương. Chẳng lẽ cứ “độc đoán” trao giải mà không cần một lời bình phẩm, khen ngợi? Cũng có thể sự lựa chọn VĐX là một quyết định cực kỳ tế nhị, các giám khảo đã đồng ý về sự lựa chọn, nhưng cũng đồng ý giữ im lặng, không giải thích quyết định của mình, để tránh đụng chạm hay phiền phức về sau? Một lời không nói có khi còn hơn vạn lời nói ra? Giải thưởng mang tên tổng thống, bởi thế sự lựa chọn người được giải cũng có thể được diễn dịch có sự đồng ý của ông. Nhưng cũng khó tưởng được Tổng thống Thiệu có thì giờ đọc, hay có thể thích một tác phẩm có nội dung như VĐX.

VĐX sẽ là một tác phẩm muôn đời gây tranh cãi bởi vì VĐX là một tác phẩm chính trị, một tiểu thuyết chính trị! Chính trị luôn luôn là vấn đề gây tranh cãi muôn đời. Huống chi vào thời đó, VĐX nêu lên một vấn đề chính trị đương đại có tính cách quyết định sự sống còn của đất nước Miền Nam cho dù không hẳn chúng ta trước đây đã nhìn thấy ở mức độ quyết liệt đó. Bối cảnh hay trọng điểm chính là một vùng đất rất chiến lược theo đúng nghĩa, rất trọng yếu cho an ninh, an toàn của Miền Nam, một tiền đồn then chốt cho chế độ Miền Nam, thế nhưng người Mỹ đã xem nhẹ tiền đồn Miền Nam của Thế giới Tự do như thế nào thì chúng ta cũng “thiếu cảnh giác” đối với tiền đồn của đất nước của mình như thế đó. Người Mỹ mất tiền đồn này (Miền Nam), họ chỉ nhún vai và quay qua hướng khác. Còn chúng ta? Mất tiền đồn này (tức cao nguyên trung phần của đất nước) thì chỉ có một con đường vong quốc trước mặt!

Thursday, March 4, 2021

1948. THỤY KHUÊ Tự Lực Văn Đoàn - Văn Học Và Cách Mạng (16)


Số 80 Quan Thánh

Phần I

Quan Thánh hay Quán Thánh?

Trước khi vào bài, chúng tôi muốn trả lời câu hỏi: Quán Thánh hay Quan Thánh?

Tây Hồ, xưa là Lãng Bạc. Lý Thánh Tông (1023-1072) dựng hành cung ở đây, gọi tên là Dâm Đàm, nhà Lê đổi thành Tây Hồ[1].

Trong bài Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng (1750-1808), cựu thần nhà Lê, sau theo Tây Sơn, làm khoảng năm 1800, vịnh cảnh Tây Hồ đồng thời ca tụng công đức nhà Tây Sơn[2], có hai câu, nói đến quán Trấn Vũ và bia [ở chùa] Trấn Quốc, sau đây:

"Đền Mục-lang hương hỏa chẳng rời, tay lưới phép còn ghi công bắt hổ; quán Trấn-vũ nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam rùa.

(…)

Toà kim-liên sóng nổi mùi hương, bia Trấn-quốc tưởng in vùng tĩnh phạm; hàng cổ thụ gió rung bóng lộc, tràng Phụng-thiên nhận sẵn thú Nghi Vu.

Dấu Bố-cái rêu in nền miếu, cảnh Bà-Đanh hoa khép cửa chùa".

Phạm Thái (1777-1813) – con Thạch Trung Hầu Phạm Đạt, cựu thần nhà Lê, hai cha con đều cầm quân chống lại nhà Tây Sơn, nhưng thất bại – sáng tác bài Chiến Tụng Tây Hồ phú, nói lên cảnh điêu tàn của Hà thành thời Tây Sơn, đồng thời mắng Nguyễn Huy Lượng là người phản bội, thờ hai chúa. Phạm Thái viết lời dẫn như sau:

"Năm canh thân [1800] mùa hạ, ta đến chơi với bạn ở Tràng An [Hà Nội], nghe bạn ngâm bài "Tụng cảnh Tây-hồ". Hỏi ai làm bài ấy mà hay thế? Bạn rằng: Chương lĩnh hầu Hữu-Hộ-Lượng [Nguyễn Huy Lượng] làm ra. Ta rằng: Chao ôi! Hữu-Hộ-Lượng a! Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm ngụy, lại còn tụng Tây-hồ mà chẳng thẹn mặt, ghét đứa nịnh làm sao! Nhớ xưa có bài thơ "chiến cổ" nay nhân bỉ kẻ làm bài tụng, ta cũng làm bài "chiến tụng" để góp một chút trò cười với đời".

Chiến Tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái, có hai câu liên hệ tới đền Trấn-võ (tức Trấn-vũ) và đường Quán Thánh (sau gọi là Quan Thánh, gần đây đổi lại thành Quán Thánh):

"Lưới Mục-lang au nát mất cả giường, gian chẳng bắt nữa hoài công bắt hổ; gươm Trấn-võ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam mà có sức giam rùa.

(…)

Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu; Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa.

Nhà tranh đua đều khấn bụt cầu ma, đường Quán Thánh khéo lăng nhăng lít nhít; chợ xao xác những buôn hùm bán quỷ, mái Trường-lương nghe lếu láo ỷ o"[3]

Bài phú của Nguyễn Huy Lượng ca tụng cảnh Hà thành nhờ ơn Tây Sơn càng thêm hoa mỹ. Bài phú của Phạm Thái, ngược lại, tả Hà thành điên đảo tàn tạ dưới thời Tây Sơn. Cả hai đều là áng văn chương trác tuyệt, nhưng lời Phạm Thái cay đắng, mỉa mai, thâm trầm hơn lời Nguyễn Huy Lượng.

Ngày nay, vì ý niệm độc tôn vua Quang Trung, trở thành độc tôn Tây Sơn, mặc dù Quang Toản không có công nghiệp gì, người ta ca tụng bài phú của Nguyễn Huy Lượng và chê bai bài phú của Phạm Thái.

Phạm Thái, cũng là nhân vật chính của Khái Hưng trong Tiêu Sơn tráng sĩ.

Theo lời phú của Nguyễn Huy Lượng thì đền Trấn Vũ (hay Trấn Võ) ngày trước là quán Trấn Vũ. Theo lời phú của Phạm Thái, con đường chạy ngang qua quán Trấn Vũ được gọi là đường Quán Thánh.

Và Đại Nam Nhất Thống Chí, ghi rõ quán Trấn Vũ dựng thời nào, thờ ai:

"Quán Chân Vũ: ở phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, thờ Trấn Thiên Chân Vũ Đại Đế dựng đời Lê Vĩnh Trị [Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị, 1678-1680], lại đúc tượng đồng cao 8 thước 2 tấc, chu vi 8 thước 7 tấc, nặng 6.600 cân, rất linh ứng. Nguyên tên là quán Trấn Vũ, bản triều năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], vua Bắc tuần, cho 50 lạng bạc, năm thứ 21 [1840] đổi tên hiện nay."[4]

Chân Vũ Đại Đế là vị thần trong huyền thoại Trung Quốc, trấn giữ sao Bắc Cực, còn gọi là Bắc cực tinh quân. Với Việt Nam, Chân Vũ giúp An Dương Vương diệt tinh (quái vật) ở Tây Hồ.

Sau hòa ước Giáp Thân (1884), nước ta chịu sự bảo hộ của nước Pháp, Hà Nội là đất nhượng điạ, nên họ thay đổi tên đương phố thành tên Pháp, bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, và có lẽ trong thời kỳ này, họ đã đổi tên đường Quán Thánh thành Le Grand Bouddha.

Báo Phong Hóa số 123 (9-11-34) quảng cáo: Kể từ 1-11 tòa báo Phong Hóa dọn lại số 80 đường Quan Thánh (80, Avenue du Grand Bouddha). Như vậy, hai tên Pháp-Việt được dùng song song cho tới năm 1934 chăng? Những số báo Phong Hóa kế tiếp vẫn còn đề tên Le Grand Bouddha, phải đến Phong Hóa số 127 (7-12-34), mới chuyển hẳn sang tên Việt: 80 đường Quan Thánh.

Từ đó về sau, trên Phong Hóa Ngày Nay, địa chỉ tờ báo luôn luôn đề: 80 Quan Thánh. Và đối với người Hà Nội, tên đường Quan Thánh vẫn còn giữ đến năm 1954.

Vì thế chúng tôi giữ nguyên cách viết này trên Phong Hoá Ngày Nay.

Sự khó khăn khi tìm tài liệu về Khái Hưng

Thư Trung trong bài Khái Hưng, thân thế và tác phẩm, soạn cho báo Văn số 22 (15-11-64) tưởng niệm Khái Hưng, đã viết: "Tìm hiểu thân thế Khái Hưng là một việc khó. Khó vì tài liệu rất hiếm, sơ sài hoặc khó tin. Khó vì những người sống gần gũi với Khái Hưng hiện nay không có được mấy người, trong số lại có những người, vì lý do này hay nguyên cớ khác, không muốn viết về người đã khuất"[5].

Nhà văn Nguyễn Thạch Kiên (1926-2008) đến Hoa Kỳ cuối năm 1992, theo diện HO, mất ngày 13-12-2008 ở California, là đồng chí và đàn em Khái Hưng, cũng là người sưu tầm và giữ được nhiều tài liệu về Khái Hưng, đã giúp Trần Đình Phong, thực hiện báo Văn số 22, tưởng niệm Khái Hưng. Nguyễn Thạch Kiên cho biết: "Ngay từ năm 1945-1946, và sau ngày toàn quốc khói lửa, tôi vẫn còn được "quản lý "một số tài liệu quý, có cả những bài Khái Hưng viết. Tôi còn được biết thêm là ngay từ hồi đó, Khái Hưng đã dịch xong toàn bộ cuốn "Liêu trai chí dị" của Bồ Tùng Linh và đã cho một thân hữu mượn. Người bạn đó là ai, hiện [1966] còn giữ nguyên bộ "Liêu trai chí dị" của Khái Hưng như lúc văn sĩ cho mượn nữa hay không, tôi xin miễn kể. Câu chuyện đã trở thành riêng tây và đã đi vào quá khứ "im lặng như một nấm mồ" rồi[6]."

Sang Hoa Kỳ 1992. Năm 1997-1998, Nguyễn Thạch Kiên in bộ sách Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, 2 cuốn, Nxb Phượng Hoàng, California[7].

Bộ sách này tập hợp tiểu thuyết đầu tiên Hồn bướm mơ tiên cùng với những truyện ngắn và kịch bản cuối cùng của Khái Hưng đã in trên hai tờ Việt Nam và Chính Nghiã trong hai năm 1945 và 1946, giúp ta biết rõ hoàn cảnh chính trị và nhất là tư tưởng của Khái Hưng trong hai năm cuối đời.

Ngoài ra, Nguyễn Thạch Kiên còn cổ động các đồng chí trong Quốc Dân Đảng, ai còn giữ được kỷ niệm gì về Khái Hưng thì viết ra, vì vậy, bộ sách này hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về con người Khái Hưng, tìm hiểu toàn diện nhà văn, nhà trí thức, nhà cách mạng.

Khi sang California nói chuyện về Tự Lực văn đoàn, năm 2002, chúng tôi được ông trao tặng bộ sách quý này, đến nay đã mười chín năm. Vì hoàn cảnh thiếu thốn tư liệu ở hải ngoại, chúng tôi đã không thể làm gì được, trước khi sưu tập Phong Hóa Ngày Nay được đưa lên thư viện điện tử năm 2012, bốn năm sau khi Nguyễn Thạch Kiên qua đời.

Viết chương sách này chúng tôi không khỏi ngậm ngùi tri ân ông, nhờ sự sưu tầm của ông mà chúng ta có thêm một số tài liệu mới, so với năm 1964, khi báo Văn số 22 ra đời, đặt mốc đầu tiên cho việc nghiên cứu Khái Hưng.

Một câu của Nguyễn Thạch Kiên làm tôi chú ý khi mở đầu tập sách:

"Địa điểm 80 phố Quan Thánh, Hà Nội là một ngôi biệt thự lịch sử không những của nền văn học Việt Nam cận đại (1930-1946) mà còn là trụ sở của các lực lượng cách mạng "vì quốc gia dân tộc Việt Nam" suốt từ đầu thập niên 30 đến cuối năm 1946 nữa[8]."

Câu này bắt buộc người nghiên cứu không chỉ bằng lòng với sự đọc tác phẩm Tự Lực văn đoàn, mà còn phải tìm hiểu cơ sở hoạt động của họ, thì mới có thể hiểu rõ tư tưởng của họ. Và 80 Quan Thánh là cơ sở chính.

Trước khi tìm về 80 Quan Thánh, chúng ta nên trở lại cơ sở đầu tiên của Tự Lực văn đoàn.

Đâu là những cơ sở đầu tiên của Tự Lực văn đoàn? Đó là vấn đề chưa thể biết tường tận. Ở thời điểm này, tôi chỉ xin đưa ra một số giả thuyết.

1 Avenue Carnot (Phố Phan Đình Phùng, tháng 12.2017)
Ảnh Nguyễn Huy Thiệp

Điạ chỉ số 1 Avenue Carnot

Số 1 Boulevard Carnot là địa chỉ chính thức đầu tiên của tòa soạn Phong Hóa trong hơn hai năm từ tháng 6-32 đến tháng 10-34[9].

Số 1 Boulevard Carnot còn là địa chỉ các nhà xuất bản:

Annam xuất bản cục, nhà xuất bản đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, ra đời năm 1933, được quảng cáo trên Phong Hóa số 45 (5-5-33)[10].

Một năm rưỡi sau, nhà xuất bản Đời Nay sẽ thay thế cho Annam xuất bản cục, được quảng cáo trên Phong Hóa số 114 (7-9-34)[11].

Vậy số 1 Boulevard Carnot là địa chỉ chính thức của Phong Hóa, của Annam xuất bản cục và nhà xuất bản Đời Nay, trong hơn hai năm, từ 16-6-32 đến 19-10-34.

Địa chỉ số 1 Boulevard Carnot sẽ bị bỏ hẳn, khi tòa soạn và trị sự dời về số 80 Avenue du Grand Bouddha (Quan Thánh), kể từ Phong Hóa số 124 (16-11-34).

Số 1 Boulevard Carnot, thực ra, chỉ là địa chỉ gửi thư và ngân phiếu; bởi vì trên Phong Hóa, kể từ số 1, đều ghi: ngân phiếu và thư tín gửi M. Phạm Hữu Ninh, quản lý Phong Hóa Tuần báo, số 1 đường Carnot, Hà Nội.

Tóm lại, số 1 đường Carnot, không phải là nơi làm việc của ban biên tập, vì không thấy ai nói đến nơi này như một tòa soạn thực thụ, mà có thể chỉ là nhà ông Phạm Hữu Ninh.

Tuesday, March 2, 2021

1947. THỤY KHUÊ Tự Lực Văn Đoàn - Văn Học Và Cách Mạng (15)


Trại Cẩm Giàng

Phần II

Bảy anh chị em Nguyễn Tường

Sở dĩ tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn có hấp lực lớn lao với độc giả, vì, ngoài tài năng của các nhà văn, còn có sự hậu thuẫn bằng chất liệu lấy ra từ chính đại gia đình họ: ở Khái Hưng là một gia đình quyền quý, đa thê, mẹ ghẻ, con chồng. Và ở Nhất Linh là nhà nghèo, các con phải tự học để lập thân, là bi kịch mẹ chồng nàng dâu, trọng nam khinh nữ và sự phân chia giai cấp trong chính gia đình ông.

Vì vậy, tìm hiểu gia đình Nguyễn Tường cũng là một cách tìm hiểu cuộc đấu tranh quyết liệt của Tự Lực văn đoàn để thay đổi những xấu xa trong xã hội, xuất phát từ gia đình, trong tác phẩm văn học.

Gia đình Nguyễn Tường có bảy anh chị em.

1- Nguyễn Tường Thụy, con cả, sinh năm 1903, tại Cẩm Giàng. Sau khi đậu bằng Cao tiểu (tức Cao đẳng Tiểu học hay bằng Thành chung, tương đương với bằng Trung Học sau này), ông phải đi dạy học để giúp đỡ mẹ nuôi các em. Ông Thụy được mẹ cưới vợ năm 1926.

Nguyễn Tường Bách, người em út viết về người anh cả:

"Nhà đông anh em, anh là người từ lúc còn trẻ đã phải ra làm giáo viên để chia đỡ gánh nặng trong gia đình, đã góp phần cung dưỡng các em ăn học thành người. Nhất là đối với tôi, anh là người giúp đỡ nhiều nhất. Tôi ở với anh mấy năm, trong khi tôi học tiểu học tại huyện Thư Trì (…) nhờ sự dạy dỗ và săn sóc của anh (…). Ở Thư Trì anh xung đột với viên tri huyện, không chịu làm trái, để chiều lòng tay này. Khi cãi nhau, anh nói độp vào mặt hắn: "Thằng đếch nào cũng chẳng làm gì được thằng nào…” và chẳng bao lâu sau, anh bị nha Học chính đổi đi Bắc Cạn.

Trong thời gian này, người vợ đầu tiên của anh ở lại Hà Nội, lúc sinh con đầu lòng đẻ khó đã chết cả mẹ lẫn con [theo Nguyễn Thị Thế, thì con chết ba tháng sau mẹ] trong khi anh còn ở xa trên mạn ngược. Lúc anh về được đến nhà thì chị Cả đã được chôn cất xong rồi. Tuy còn bé nhưng tôi cũng cảm thấy anh đau thương vô hạn. Tôi hết sức đồng tình với anh, nhất là vì trong nhà bất hoà với tấn kịch mẹ chồng nàng dâu bi đát. Hình như là chị đã mang cả cái oan ức xuống suối vàng, người chị dâu hiền lành ít nói của tôi. Lúc còn sống chị chỉ biết ngậm ngùi một mình."[1]

Đây là bi kịch đầu tiên trong gia đình được Nguyễn Tường Bách ghi lại trên giấy: Sự xung đột mẹ chồng nàng dâu. Sẽ được Nhất Linh tiểu thuyết hoá trong Đoạn tuyệt sau này.

"Trong cuốn nhật ký của anh, ngẫu nhiên tôi đọc được mấy hàng chữ Pháp: "me plonger dans l’étude comme dans une mer de l’oubli…" (ta dấn mình vào học tập như vào một bể cả lãng quên…)". Sau bi kịch đó, Nguyễn Tường Thụy dấn mình tự học, đỗ tú tài, thi vào ngạch công chức Pháp, sau này làm tới chức Giám Đốc Bưu Điện.

Năm 1930, bà Nhu cưới vợ lần thứ hai cho ông Thụy, gia đình giàu có nhất nhì ở phố hàng Gai, người vợ rất đảm đang, buôn bán giỏi. Gia đình ông Thụy giàu sang. Việc này trở thành cái hố chia cách sâu xa giữa người anh cả và các em. Nguyễn Tường Bách viết: "Cuộc đời công chức khá giả của anh so với cuộc đời tương đối lãng mạn của các anh em khác, đã là một nguyên nhân của sự cách biệt giữa anh em. Mà đối với mẹ tôi thì như khó xoá nhòa được những mâu thuẫn, trong đó vần đề mẹ chồng nàng dâu vẫn còn dưới hình thức khác. Vì thế có khi anh cũng buồn và tức. Anh giận mọi người lãnh đạm với anh. Có một lần trong ngày Tết, anh chỉ vào mặt tôi mà nói: "Còn thằng này nữa, tôi đã nuôi nấng dạy dỗ nó mà nó cũng thế cả.” (…) Tới những năm 39-40, chúng tôi bước vào con đường đấu tranh, tuy anh không đả động gì đến hay không can dự gì cả nhưng tôi cảm thấy rõ ràng trong thâm tâm anh, sự tán thành và đồng tình đối với lòng ái quốc." [2]

Những hàng trên đây của Nguyễn Tường Bách không chỉ tóm tắt cuộc đời của người anh cả, hiểu tại sao ông không tham dự vào những hoạt động của các em mà còn vẽ lại bi kịch của một con người, đã vượt qua tất cả những bất công trong một xã hội thối nát từ trong ra ngoài: nhà nghèo phải nghỉ học sớm để kiếm tiền phụ mẹ nuôi em. Đi dạy học bị quan huyện sách nhiễu, cưỡng lại, bị đày lên Bắc Cạn. Ở nhà vợ bị cảnh áp chế mẹ chồng nàng dâu. Vợ con chết. Uất ức, tự học để lập thân. Rồi trở thành nhà giàu, quyền cao chức trọng. Bị anh chị em lạnh nhạt: Cuộc đấu tranh giai cấp cũng nằm trong gia đình. Bắt đầu với người anh cả, sau tới người anh thứ tư Nguyễn Tường Long, qua lời Thế Uyên.

Ông bà Nguyễn Tường Thụy sinh các con: Nguyễn Tường Hùng, Nguyễn Tường Bá, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Tường Lưu, Nguyễn Thị Nhật, Nguyễn Tường Quý, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Tường Cường.

Người con trưởng là nhà văn Tường Hùng, có tác phẩm Gió mát, do Đời Nay in năm 1954 tại Sài Gòn. Tường Hùng cộng tác đắc lực với Nhất Linh trong tạp chí Văn Hóa Ngày Nay. Ông sang Pháp du học ngành kiến trúc, sau này thỉnh thoảng có viết truyện ngắn gửi đăng báo Văn ở Sài Gòn. Tường Hùng có đủ yếu tính văn nghệ của Nhất Linh và Thạch Lam: văn thơ mộng có cấu trúc thơ, ý lạ, nhận xét tinh vi, cảm xúc khác thường. Tiếc rằng ông viết ít, và viết rất tài tử nên không đào sâu vào những ngõ ngách ông đã khơi ra, đọc truyện ông người ta không khỏi có cảm giác như còn dang dở, chưa viết hết.

2- Nguyễn Tường Cẩm, sinh năm 1904 tại Cẩm Giàng. Giống anh, đậu bằng thành chung xong, ông cũng phải đi dạy học để kiếm tiền giúp đỡ mẹ nuôi các em. Sau ông tự học thi đỗ vào trường cao đẳng canh nông, trở thành kỹ sư canh nông.

Cuộc đời tình cảm của ông có nhiều thăng trầm: ba đời vợ. Ông phải thuyên chuyển đi khắp nơi vì nghề canh nông, nhưng có lẽ ở Sài Gòn nhiều hơn cả. Nguyễn Tường Cẩm thích văn chương, đã có bài đăng Phong Hóa, mấy số đầu, như: Thomas Bata, nhà đóng giầy trứ danh mới từ trần (Phong Hóa số 16, 6-10-32), truyện ngắn Bích Châu (Phong Hóa số 67, 6-10-33).

Ông bị bệnh hen nặng. Cuối năm 1934, về Hà Nội chữa bệnh, đúng dịp Nhất Linh định ra báo Ngày Nay có hình ảnh, bèn giao cho ông làm giám đốc Ngày Nay từ số 1 (30-1-35) đến số 5 (10-3-35). Nhưng Ngày Nay bị lỗ lã trầm trọng, cứ ra được vài số lại phải nghỉ. Nhất Linh thay anh làm giám đốc tờ báo, Nguyễn Tường Cẩm trở về với nghề kỹ sư canh nông.

Trong thời gian phụ trách Ngày Nay, ông ký tên Minh Trúc, viết bài Nền Mỹ thuật Việt Nam (Ngày Nay số 3, 20-2-35), nhiệt tình giới thiệu trường Mỹ Thuật Đông Dương và giáo sư Victor Tardieu. Trong gia đình, ông là người trực tiếp sống với dân quê nhiều hơn cả, ông viết bài xã luận Dân quê (Ngày Nay số 4, 1-3-35) cũng là bài xã luận đầu tiên trên Ngày Nay, tố giác đời sống hủ lậu, mê tín và khốn khổ của dân quê và đặt câu hỏi: "Có thể khác thế được không? Họ có thể sống một đời đáng sống hơn được không?". Bài này đi cùng với bài phóng sự Nhà cửa Annam của Việt Sinh (Thạch Lam), là hai bài mở đường cho chương trình Nhà Ánh Sáng của Tự Lực văn đoàn sau này.

Mặc dù Nguyễn Tường Cẩm đã bỏ báo Ngày Nay từ số 6 (2-4-35), và theo lời Nguyễn Tường Bách, ông không dính líu gì đến Quốc Dân Đảng; nhưng đến năm 1947, Nguyễn Tường Cẩm vẫn bị Việt Minh bắt đi mất tích. Ông có một người con trai duy nhất là Nguyễn Tường Tâm, được bà nội nuôi dưỡng.