Wednesday, September 23, 2020

ĐÃ PHÁT HÀNH TẠP CHÍ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỎ THƠM SỐ 89 – THÁNG 9.2020

ĐÃ PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

CỎ THƠM

SỐ 89 – THÁNG 9.2020

Chủ nhiệm: Phan Anh Dũng
Liên lạc: dathphan1@gmail.com


Tuesday, September 22, 2020

1768. TRẦN HUIỀN ÂN 5 bài thơ (Trích từ tập thơ LỜI TRÊN LÁ (1997)

Chân dung Trần Huiền Ân - Đỗ Toàn vẽ (1973)

BÀN TAY BẺ NÚI

 

Tưởng tượng… bạn không nhìn ra ta

Má cóp làm như đã quá già

Trán thấp đôi lằn nhăn hiện rõ

Rối bù mái tóc bụi đường xa

 

Tưởng tượng… ta không nhìn ra bạn

Râu hùm tua tủa mày chuôi dao

Bàn tay bẻ núi căng gân thép

Áo khoác hờ phanh ngực tự hào

 

Tưởng tượng… một giây chìm lặng lẽ

Mắt nhòa tâm trí gọi ngày xưa

Rồi A một tiếng cùng vui sướng

Quên hết ngàn năm chuyện nắng mưa

 

Không thể, cho dù trong tưởng tượng

Chìm chìm một phút lỡ quên nhau

Không thể, cho dù trong tưởng tượng

Cầm dao cắt ruột chẳng nghe đau

 

Tưởng tượng… hôm nào ta đến bạn

Chiều xanh xanh đẹp nắng gay gay

Dưới này củi rẫy đen lem luốc

Trên ấy mây trời trắng nõn bay

 

Đêm đến gọi đàn sao mọc sớm

Vẫn sừng trăng cũ bạc cong cong

Cùng ngồi đốt lửa hong tâm sự

Ếch nhái kêu inh phía mặt đầm

 

Tưởng tượng… ta cùng say quá đỗi

Dăm vò rượu vục bát sành to

Nghiêng nghiêng… mặt đất nghiêng nghiêng nhỉ

Tiếng sóng xa như lắc mũi đò

 

Ta lặng im nghe trời đất nói

Ô kìa, trời đất cũng im nghe

Con nhà ai khóc vu vơ đó?

Con cuốc thương thân gọi chớm hè?

 

Ta ngã mình trên sương cỏ ướt

Dưới giàn hoa mướp dịu dàng thơm

Sáng mai bạn sẽ mang ra chợ

Quả bí quả cà đổi gạo cơm

 

Ta ngủ vùi khi men rượu thấm

Đầu non trăng đã lặn phương nào

Những linh hồn nhỏ chung đau khổ

Nhấp nháy trên ngàn vạn chấm sao

 

Tỉnh dậy canh tàn chong lạnh buốt

Soi mình khơi bếp lửa tàn tro

Thảm thương ta chỉ vì mươi đấu

Con kiến loanh quanh miệng chén bò

 

Muốn thét to mà nghe cổ khát

Ta thèm giọt nước giếng trong veo

Ta thèm như bạn cười khinh bạc

Bình thản yên xem ngọn lá vèo

 

Tưởng tượng… cho dù trong tưởng tượng

Đã thành có bạn ở bên ta

Ta dẫu nay lời hươu tiếng vượn

Chút lòng riêng bạn hiểu riêng ta

 

(1976)

 

 

CÁNH DIỀU TRÊN ĐƯỜNG PHỐ

 

Con diều đã bay lên bay lên

In trên trời xanh lẫn vào mây trắng

Con diều có sợi đuôi dài long lanh rẽ nắng

Có đôi mắt tròn trong suốt thơ ngây

 

Con diều đã lên cao, ngẩng trông ngọn cây

Hàng cây già đậm đà đường phố

Hàng cây che bước em chiều tan trường mưa đổ

Dột đốm hoa vàng trên nếp áo ban mai

 

Chiếc ná cao su không cầm trên tay

Bỏ quên, cho chú chim non ngân tròn giọng hót

Tiếng chim buổi trưa xa gần thánh thót

Từng bước em đi dò dẫm phập phồng

 

Quên những tiếng chim, quên những vệt cỏ hồng

Vệt cỏ biếc pha chút màu mắt chói

Em ngước lên ngút tầm xanh vời vợi

Con diều càng lên cao, lên cao…

 

Em bé thân yêu!

Nhớ lắng nghe trong tiếng gió rì rào

Và nhịp chân chạy mải mê, có chiếc xe nào lướt tới

Có dáng người nào gánh gồng bước vội

Đường phố không thênh thang như đồi cỏ mượt mà

 

Đường phố không thênh thang bầu trời vẫn bao la

Gió thoảng hương nguồn, mây nồng muối bể

Lằn chỉ nhỏ hơn đường ong giăng nhẹ

Chia không gian riêng ánh mắt theo dòng

 

Em thả con diều lên cho mọi người cùng trông

Những cánh diều lượn vòng chấp chới

Những cánh diều tầm tay không vói tới

Mà niềm vui thật gần gũi kề bên…

 

(1978)

 

 

TRÀ SAY

 

Thức dậy thấy trời như rớt bão

Sân tựa vườn hoang ngập lá cành

Cây ngã cây nghiêng cây lảo đảo

Giật mình con sẻ cóng bay nhanh

 

Vợ đội tơi đi từ sáng sớm

Để kịp chen chân ở cửa hàng

Bảy ngày mới có ngày chủ nhật

Trong nhà mắm hết gạo đang khan

 

Lũ con nai nịt thành hiệp sĩ

Trên giường dàn trận quyết hơn thua

Gối làm khiên thước làm đoản kiếm

Bốn thằng: ba tướng, một ngôi vua

 

Giây phút loay hoay nhóm lửa bếp

Gió quạt lò than thoắt đã hồng

Ta ngồi đun nước ngồi suy gẫm

Lẽ tuần hoàn xuân hạ thu đông

 

Trà đã không ngon không có bạn

Ta đọc thơ xưa uống một mình

Trà đã không ngon không có thuốc

Thèm hơi khói nhỏ trắng lung linh

 

Sờ túi vẫn nguyên là túi trống

Nhưng giá còn chăng được năm hào

Không nỡ sai con đội mưa gió

Xóm nghèo quán cóc cũng xa sao!

 

Ta đành uống cạn bình trà mốc

Như uống lòng ta vào lòng ta

Trà mốc cũng làm ta chuếnh choáng

Bất giác kêu lên một tiếng khà

 

Say trà nào phải như say rượu

Để nói huyên thiên phủ đất trời

Thu tay vào bụng tìm hơi ấm

Ta lặng nhìn mưa rơi… mưa rơi…

 

(1980)

 

 

MỘT THỜI XUÂN THU

 

“Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi” *

Ta đọc cho người câu thơ mấy thuở

Một thời xuân thu ngút trời khói lửa

Một thời xuân thu chữ nghĩa tháp ngà

 

Đêm đưa dòng sông trôi xa trôi xa

Người dẫn trăng đi thuyền chao sóng mắt**

Những ngọn đèn khuya võ vàng cúi mặt

“Hữu tình áp má bông lau”**

 

Ta tự hỏi thầm: Về đâu… Về đâu?

Người như Phương Cơ chân trần tóc xõa

Đường bỗng nhiên buồn bỗng nhiên khác lạ

Tiếng cuồng ca gió hút canh dài

 

Ta đã thề không uống rượu ai

Đêm nay rượu người lại uống

Lại chợt hiện nỗi niềm phiền muộn

Một thời ảo ảnh hoàng hoa

Một thời xuân thu chữ nghĩa tháp ngà

Cánh bướm cuộn tròn nếp kén…

 

Xin lỗi hẹn. Thôi thì đành lỗi hẹn

Cầm bằng rượu nói thay lòng

Ngỡ ngàng có có không không

Đâu còn tuổi mày ai trăng mới

Nếu trót thức trắng đêm trường mệt mỏi

Mang kính râm mà giấu bụi lề đường

 

Một chút buồn

Một chút khói sương

Một chút ngày xưa

Một chút ngày mai nữa

Ta một nửa có người trong một nửa

Chiều nào thoảng giọng cuồng ca…

 

(1991)

(*) Thơ trong Xuân Thu nhã tập – (**) Thơ Đinh Hùng

 

 

VỀ TRƯỜNG CAN

 

Rêu biếc trải dày sân

Vườn sau tràn cỏ dại

Chưa một lần trở lại

Trường Can có còn ai?

 

Trường Can không còn ai…

Để buồn mưa vui nắng

Ngọt ngào và cay đắng

Như lòng em ngày xưa

 

Bây giờ rừng đã thưa

Ngẩn ngơ bờ suối cạn

Con chào mào lẻ bạn

Nhớ bông bí đầu mùa

 

Ta một mình hơn thua

Ta một mình lăn lộn

Ta một mình khôn lớn

Ta một mình già nua

 

Ta một mình tóc bạc

Lấm chấm vệt da mồi

Đâu còn ai để nhớ

Về Trường Can xa xôi…

 

(1993)

 

TRẦN HUIỀN ÂN

(Trích từ tập thơ LỜI TRÊN LÁ  (1997)

Sunday, September 20, 2020

1767. ĐINH CƯỜNG Chiều nắng ấm. đi bộ qua Starbucks đi bộ về nhìn vệt mây hồng và vầng trăng sắp tròn. Thấy hạnh phúc

Chân dung Đinh Cường
Photo by Phạm Cao Hoàng, Virginia, 2014

Một vệt mây hồng. ngôi sao lên sớm
vầng trăng còn khuyết. sắp trăng rằm
người đi trong chút chiều nắng ấm
thấy như là mình rất thong dong
 
thấy như mình vừa qua con suối
suối cựa mình cho dòng nước trong
và dưới kia mấy hòn cuội trắng
nhớ tuổi thơ. hay ngồi sắp từng hàng
 
trường nhà thờ sân toàn cuội trắng
rừng cao su che bóng mát quanh năm
quanh năm đi dưới rừng xanh mướt
thủ dầu một ơi mai kia về thăm
 
mai kia trăng có tròn hay khuyết
chút tình tôi là mãi trăm năm
chút tình tôi sẽ nhớ hoài khôn siết
đoạn ghi in. bạn tặng bất ngờ sao...
 
Virginia, Jan. 12, 2014
ĐINH CƯỜNG
(1939-2016)


Bìa tập thơ "Cào Lá Ngoài Sân Đêm"
Nhà xuất bản Thư Ấn Quán, 2014

1766. PHẠM CAO HOÀNG 42 năm chưa quên

Sông Ba, đoạn chảy qua cầu Đà Rằng (Tuy Hòa)
Photo by Phạm Cao Hoàng, 27.9.2017

vậy là bốn mươi hai năm
từ khi giã biệt dòng sông quê nhà
từ khi từ biệt Tuy Hòa
tôi lên Đà Lạt rồi qua Hoa Kỳ
đi thì vẫn cứ phải đi
trở về thì vẫn đôi khi phải về
dẫu gì đất cũng là quê
là hương của những ngày xưa êm đềm
dẫu gì máu cũng về tim
vườn xưa vẫn nhớ tiếng chim thiếu thời
và tôi nhớ tuổi thơ tôi
chiều thu nhớ nắng đêm ngồi nhớ trăng
mùa đông nhớ một chỗ nằm
về đây lại nhớ những năm tháng buồn
bốn mươi hai năm, chưa quên!
 
PHẠM CAO HOÀNG
Tuy Hòa, 28.9.2017 


Đường lên đập Đồng Cam (Phú Yên)
Photo by Phạm Cao Hoàng, 28.9.2017

Saturday, September 19, 2020

1765. NGUYỄN VY KHANH Thế giới nhân bản của Nhật Tiến


Thế giới tiểu thuyết của Nhật Tiến (sinh ngày 24-8-1936 tại Hà-Nội) có hai đặc điểm chung: một thế giới của những con người bất hạnh và một không gian của nhân phẩm, con người! Tác giả của chúng là một con người đầy lòng nhân ái và ông muốn mọi người chia xẻ cái nhìn của ông! Trước 1975, ông đã xuất bản 19 tác phẩm gồm 11 tiểu thuyết hoặc truyện dài: Những Người Áo Trắng (1959), Những Vì Sao Lạc (1960), Thềm Hoang (1961), Mây Hoàng Hôn (1962), Chuyện Bé Phượng (1964), Vách Đá Cheo Leo (1965), Tay Ngọc (1968), Giấc Ngủ Chập Chờn (1969), Đóa Hồng Gai, Lá Chúc Thư (1969), Quê Nhà Yêu Dấu (1970); ba tập truyện ngắn: Ánh Sáng Công Viên (1963), Giọt Lệ Đen (1968) và Tặng Phẩm Của Dòng Sông; một tiểu thuyết kịch: Người Kéo Màn (1962); một tiểu thuyết dưới hình thức nhật ký: Chim Hót Trong Lồng (1966, đăng Văn số 1, 1-1-1964), một hồi ký viết cho thiếu nhi: Thuở Mơ Làm Văn Sĩ (1973, tb Westminster CA: Huyền Trân,  2013) và ba truyện cho thiếu nhi mỗi truyện từ 30 đến 40 trang: Đường Lên Núi Thiên Mã, Quà Giáng Sinh (1970), Theo Gió Ngàn Bay (1970), Săn Trong Thành Phố, Lá Chúc Thư. Giai đoạn đầu tác phẩm ông do các nhà Phượng Giang, Đời Nay và Ngày Nay của Tự-Lực văn-đoàn xuất bản, về sau do nhà xuất bản Huyền Trân (1959-) của ông và nhà văn phu nhân Phương Khanh. Ông từng làm chủ bút tạp chí Thiếu Nhi (1971-1975) do nhà Khai Trí xuất-bản và cộng tác với các tạp-chí Văn-Hóa Ngày Nay, Tân Phong, Đông Phương, Văn, Bách Khoa, Văn Học,… Nhà văn Nhật Tiến từng là Phó Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt-Nam và là Hội viên Hội Đồng Văn Hoa Giao Dục Việt Nam Cộng Hòa (nhiệm kỳ II, 1974).


Nhà văn của tuổi thơ bất hạnh

Nhật Tiến khởi đầu sự nghiệp viết văn với những đứa trẻ mồ côi trong cô nhi viện, một thế giới trầm lặng, có thể nhàm chán đơn điệu đối với những người ở ngoài, bên cạnh những bà Phước, nhưng qua ngòi bút của Nhật Tiến, người đọc khám phá con người, tâm lý, hoàn cảnh, nếp sống của những đứa trẻ mồ côi, những học sinh nội trú và cả những vị tu hành. Đó là Những Người Áo Trắng , Những Vì Sao Lạc, Tay Ngọc, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng,...

Những Người Áo Trắng là chuyện của Quỳnh, một nữ tu trẻ. Từ thân phận mồ côi, được thương giúp, Quỳnh đã trở nên nữ tu để thương lại những đứa trẻ cùng phần số hẩm hiu. Quỳnh đã đưa lên trang giấy thế giới đó. Thể loại bút ký đưa người đọc đến với những đứa trẻ, đến với một thế giới đằng sau bức tường kín cổng, ngoài kia là cuộc đời, là sự sống; trong nầy là một sức sống khác, sức sống tinh thần. Con đường đưa Quỳnh đến với đời sống tu hành đã phải qua nhiều chặng đường. Nàng đã nhìn thấy những đứa bạn chỉ vì muốn thoát ly đã phải chết như Hoà, chịu nghiệt ngã như Liễu. Đã theo đường tu hành, nhưng tim nàng đã có lúc xúc cảm mạnh vì tình yêu dù đơn phương với một sinh viên đeo kính gặp ở vườn hoa - tình yêu ở Nhật Tiến nói chung có thể mãnh liệt trong lòng nhân vật chứ tác giả không chi tiết dài dòng! Và khi đã tận hiến cuộc đời cho Chúa và những đứa trẻ cùng số phận, nàng cũng đã phải chịu sự đố kỵ đôi khi nghiệt ngả của một số đồng tu. Chỉ vì nàng thương trẻ, qua Phượng, qua Lucie, với một tình đồng cảm.

Những Vì Sao Lạc rọi ánh sáng từ nhân vào cuộc đời những đứa trẻ và thanh thiếu niên vì hoàn cảnh trở nên mồ côi, và cũng vì đó đã có những hành động xấu đối với xã hội bình thường. Chuyện của Khánh, mẹ chết vì bom đạn, bố tự tử vì thất vọng người vợ tục huyền, anh em đã phải sống nhờ cơm chùa, và khi muốn tự lập thì em bệnh nặng không tiền đi khám bác sĩ; đường cùng dẫn đến trộm tiền người quen để phải bị cái án "du thủ, du thực, ba tháng tù" (tr. 166). Khánh vào tù nhưng lòng nhẹ nhàng khi thấy em Mai tìm được tình thương nơi hai người bạn của Khánh. "Lòng tôi trở nên nhẹ nhàng và can đảm. Ba tháng tù sẽ rửa sạch cho tôi tội lỗi mà tôi phải trốn tránh. Tôi sẽ có cơ hội để làm lại cuộc đời. Mộng tưởng của tôi vẫn là mong muốn được dự phần vào guồng máy khổng lồ của xã hội. Mồ hôi của tôi sẽ đổi lấy những buổi chiều có gió mát dẫn em Mai đi chơi ở trên đường có hoa xoan tây rụng đỏ. Mai sẽ lớn lên như một con chim có linh hồn trong sáng..." (tr. 166). Trong tiểu thuyết này, tình người được đề cao, cao hơn những thói thường tình, như Khánh đối với dì Tự, biết dì ghẻ ngoại tình với người làm của bố, biết em Mai là hậu quả của ngoại tình - tức không phải con của bố Khánh, anh vẫn thương: "Trong cái tang đau đớn này, dì mất chồng cũng khốn khổ như tôi mất cha. Tôi thấy thương dì hơn là giận. (...). Sự cô đơn của người đàn bà góa và đứa con thơ ngây cho tôi nỗi xúc động . Tôi không thể ghét dì mà còn tràn ngập lòng thương. Tôi tin rằng nếu linh hồn ba tôi còn lẩn quẩn ở đây, chắc ông có cùng ý nghĩ như tôi" (tr. 90, 97). 

Chuyện Bé Phượng (1964) là chuyện một xã hội thu nhỏ trong một viện mồ côi, những đứa trẻ mang tên Phượng, Alice, Dung, Cúc,... "Con bé Dung khôn ngoan gian giảo, biết nịnh các soeur khi cần nịnh, biết nhường nhịn lũ trẻ khi cần thiết phải nhường, những điều gì làm lợi và vui cho nó thì dù có phải tàn nhẫn để đánh đổi lấy, nó cũng không từ" (tr. 14). Cũng đạo đức giả, cũng ăn cướp cơm chim, cũng ích kỷ độc ác, v.v. như xã hội người lớn. Bé Cúc đóng vai ăn cắp vặt có "lý do", có "quyền" vì nó chỉ lấy của người dư thừa: "Ừ tao ăn cắp thì đã làm sao, tao không lấy của của mày (Phương), tao lấy của chúng nó, chúng nó thiếu gì" (tr. 128). Phượng được các soeur thương, nhưng cô có tâm hồn, có suy nghĩ, lúc nào cũng nghĩ đến Chúa và sự cứu rỗi. Lớn hơn là các chị Quỳnh, Giang, Thu, Thanh... và những tranh chấp. Mẹ Félicité phải ra đi để rồi được Quỳnh viết thư xin mẹ trở về viện để dìu dắt lũ trẻ. "Bởi vậy con xin mẹ hãy nhân danh những sự cứu rỗi, vẫn thường là con đường của Chúa đã vạch ra, mà trở lại viện cô nhi hướng dẫn dìu dắt và bảo ban chúng con...  Vì mẹ là kẻ sáng suốt, vì mẹ là kẻ đã thực sự nhìn vào cuộc sống khốn khổ của chúng con, thực sự thông cảm nỗi chua xót của những đứa mồ côi..." (tr. 199). Chuyện trẻ con, trẻ mồ côi, đời sống trong một viện mồ côi nhưng nhiều ý nghĩa có thể áp dụng cho cuộc đời!

Chim Hót Trong Lồng thêm một câu chuyện về những đứa trẻ mồ côi và nội trú trường Nhà Trắng với các bà sơ, một đề tài quen thuộc với Nhật Tiến. Nhưng ở đây tác giả cho thấy con người là nạn nhân của nhau và sự vươn lên của những kẻ thấp hèn không dễ. 14 lá thư và những trang nhật ký của một cô bé tên Hạnh mẹ gửi nội trú trường các Soeur. Những lời lẽ ngây thơ chân chất của người con viết cho người mẹ, thật cảm động sự ngây thơ của cô bé khi nghe người khác kể lại mẹ làm nghề điếm: "Má làm nghề điếm phải không má. Chú con Hằng nói chuyện với nó thế. Con hỏi điếm là gì thì nó cũng không biết. Vì chú nó chỉ nói thế thôi. Có thật không má? Sở điếm của má có to không? Má làm chức gì trong ấy? Mà sở điếm thì buôn gì hở má?..." (1). Mẹ bệnh nặng phải nằm nhà thương, Hạnh về nhà bà Tuyết bạn mẹ cùng nghề, ngây thơ trách mẹ "Tại sao má bắt con ở chung với đồ đĩ như thế" (Sđd, tr. 71). Mẹ chết, hết người để gửi thư, Hạnh viết nhật ký để "nói" với mẹ và cầu xin "Lạy Chúa. Xin Chúa hãy vì má, hãy vì nỗi lòng đớn đau và tinh khiết của má, mà đưa má về nơi thanh cao như lúc này con đang thành tâm tha thiết nguyện cầu cho má..." sau khi nghe lời sơ Félicité cắt nghĩa "Má có linh hồn. Linh hồn của má sẽ được tới gần chân Chúa" (tr. 98-99). Câu chuyện với nhiều cơn mưa dài, lạnh, lá rụng nhiều mà tiếng chuông như gọi hồn cũng nhiều; mưa và lạnh những lúc đi dạo Tết cũng như những buổi hiếm hoi được gặp mẹ và cuối cùng lúc đám tang mẹ!

Đến Tay Ngọc, ảnh hưởng Thiên Chúa giáo đậm đà hơn nữa. Qua những bức thư của Hạnh, một nữ sinh lưu trú gửi cho Mẹ Bề trên, trong đó nàng kể lại những sinh hoạt của viện mồ côi đồng thời ghi lại những suy nghĩ về tương lai và chứng tỏ một niềm tin mãnh liệt nơi đấng thiêng liêng: "Chúa chẳng để sự đe dọa nào có thể làm lung lạc đức tin ấy nơi Chúa. Rồi từ đó, nếu ai ai cũng giữ được lòng thánh thiện, mọi vết nhơ được xóa bỏ, mọi tội lỗi được dung tha, mọi điều khổ sở sẽ được hàn gắn, và nhân loại sẽ tạo được địa vị trong sáng ban đầu". Lòng tin làm nền cho quan niệm sống và cư xử ở đời!

Mây Hoàng Hôn (xuất bản năm 1962 nhưng viết xong từ 1958) kể chuyện cuộc đời buồn nản của Đỗ, một nhà văn trẻ bị bệnh lao phổi, vào nằm điều trị ở một bệnh viện Thiên Chúa giáo, đem lòng yêu bà Tâm, một bà phước trẻ đẹp. Mối tình đơn sơ, tột đỉnh cũng chỉ là cảnh "Đỗ kéo hai bàn tay mềm mại của bà về phía ngực mình. - Tâm ơi... Tâm tha lỗi cho tôi" (tr. 78). Vì tình yêu như thế là tội lỗi, bà phước Tâm xin đổi đi nơi khác và chết trẻ, để lại tập nhật ký, bà Madeleine gửi cho Đỗ, chàng khóc đến hết nước mắt rồi tìm đến bên mộ bà "cúi xuống vuốt mãi tấm bia trắng để cảm thấy mình gần quá với những dòng chữ cuối cùng còn ghi lại di tích của con người bạc mệnh". Một chuyện tình đẹp nhưng bất khả thi, Nhật Tiến kết thúc đơn giản thay vì lèo lái câu chuyện éo le theo thị hiếu.

Không khí tiểu thuyết của Nhật Tiến vừa kể luôn có bóng dáng các nữ tu và một số tín lý đạo Thiên Chúa nhưng thiển nghĩ mục đích của Nhật Tiến là phổ biến và đề cao lòng nhân ái, tình thương người, kêu gọi xóa bỏ ích kỷ trong mọi trường hợp, ngay cả khi yêu. Nhật Tiến theo đạo Phật nhưng đã viết một phần ba tác phẩm về thế giới đạo Thiên Chúa một cách thuần đạo như Thụy An Hoàng Dân thời tiền chiến, trong khi nhà thơ Hàn Mặc Tử tuy có đạo nhưng thi ca ông chịu nhiều ảnh hưởng Phật và Lão. Nhật Tiến đã đưa người đọc vào thế giới đạo đó từ trước khi di cư vào Nam. Mặt khác, thời văn học miền Nam này, nhiều nhà văn đã viết cho tuổi thiếu niên, ngoài Nhật Tiến còn có Nhã Ca, Duyên Anh,... nhưng ông khác hai nhà văn sau, tiểu thuyết của ông còn nhắm độc giả trưởng thành hơn, vì ông luôn nêu lên một vấn-đề  nào đó không thể không suy nghĩ và tìm giải pháp!


Nhà văn xã hội

Chiến tranh khiến cho người nghèo càng nghèo khó hơn, càng thêm trẻ bụi đời, mồ côi, Nhật Tiến ghi lại trong Giấc Ngủ Chập Chờn, Giọt Lệ Đen, Quê Nhà Yêu Dấu,... Nhân vật của Nhật Tiến rời mái ấm cô nhi, trường các dì phước, trở thành những người nghèo khó vật chất cũng như tinh thần. Thềm Hoang, Giải văn chương toàn quốc 1962, viết về một thế giới người nghèo ở Xóm Cỏ, một xóm cận biên ở thủ đô Sài-Gòn mà cũng có thể ở một nơi khác. "Dạo ấy dân xóm Cỏ làm đủ mọi nghề của một tầng lớp thấp kém" (2). Nơi đó có đủ mọi hạng người, đĩ điếm, đạp xích lô, thông cầu tiêu, bán hàng rong, ăn xin, v.v. Một sống chung với những thói hư tật xấu, với lòng ngay và tình đùm bọc khi hoạn nạn. Một mối tình vô vọng nhưng chân thật của bác Tốn mù hát rong xin ăn với cô Huệ gái giang hồ: "Cô Huệ ơi... Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng / Tôi mua ô tô cho cô ngự, mua váy đầm cho cô thay". Nhưng cô Huệ sẽ chết thảm, bác Tốn chung tình tự đứng ra lo cho đứa con lai có với lính Tây lê dương. U  Tám cũng chết buồn thảm, mụ Nết thì trở thành điên cuồng vì con cháu. Những thằng Ích, cái Ngoan, cái Hòn,... lêu lỗng. Chuyện tình đơn sơ dễ tính của Hai Hào đạp xích lô với Đào con Phó Ngữ. Năm Trà qua Lào làm ăn trở về mất vợ mất con, mẹ điên, hắn lên cơn đốt nhà không ngờ cháy tan rụi cả xóm! Cơn mưa to ở cuối truyện phải chăng đã đến như hy vọng quét sạch những tàn tích của tội lỗi lẫn khó nghèo? Xóm Cỏ sống động dưới ngòi bút Nhật Tiến, tình người, nếp sống linh hoạt không ngừng biến cố, diễn tiến. Khi nói đến những vấn-đề  xã hội là đã ngầm chứa đòi hỏi công bằng, Nhật Tiến làm kẻ quan sát và ông tỏ ra có tài trong công việc này, cả rành tâm lý. Tả sự cô độc của bác Tốn mù, một lần bác ôm đàn ngồi ở bực cửa hát chờ cô Huệ đi ngang qua: "Bóng tối vây quanh như nỗi cô độc của bác trong sự mù lòa" (tr. 28). Lúc khác bác nghêu ngao hát cho mọi người nghe cười cho vui. "Tiếng cười của họ khiến bác nghĩ rằng mình không cô độc" (tr. 29). Tiếng cười của một nhân vật khác, dượng Tám, thời tán u Tám thì "tiếng cười lỗ mãng và ngay thẳng. Vì thế u tìm thấy ở dượng cái vẻ gì gọi là chất phác, đáng yêu" (tr. 33). Nhưng khi đã về với nhau thì chỉ có tiếng hét, la mắng, vòi tiền, lừa gạt! Cảnh lão Phó Ngữ gây với Đào, con gái lão, đã dám thất thân với Hai Hào đạp xích lô, rồi đến bàn chuyện đám cưới, cũng như những cảnh đú đởn tình từ của đôi nhân tình này, là những bức tranh thật linh động!

Tập Ánh Sáng Công Viên gồm 8 truyện ngắn viết về những mảnh đời, những chuyện tâm tình, những cảnh đời ngang trái  (bị giam vì tình nghi chính trị, cảnh đòi nợ, cảnh gia đình êm ấm trong xóm nhỏ,...). Nói chung tác giả tỏ nhiều thiện chí, muốn con người lưu tâm đến những tệ nạn xã hội hoặc hậu quả của chiến tranh,... trong khi nhiều nhà văn đồng thời với ông  chạy theo siêu hình hay những giải pháp không tưởng!

Giọt Lệ Đen tả một trong nhiều thảm cảnh của thời chiến. Hai anh em mồ côi, Tư Híp và thằng Út sống với nhau nên khi Tư Híp đi trình diện nhập ngũ thì đã phải đem thằng Út theo, may có Hiên làm nhà bếp thương anh em đã giúp giữ thằng Út trong khi Tư Híp phải đi hành quân xa. Một tình yêu nhẹ nhàng đến với anh em Tư Híp và kết không bi đát trong khi người đọc chờ đợi cái phải đến bi đát của chiến tranh. Tác giả kết thúc với hy vọng, đứa em leo lên ụ đất nhìn theo đoàn quân lên đường bụi mờ mịt! Một truyện ngắn khác, Kẻ Nổi Dậy là chuyện tâm lý, chuyện anh Ba Sinh, một anh chồng yếu đuối chỉ biết ăn bám vợ, nghi vợ làm điếm nuôi cả nhà mà không dám hỏi. Ra vẻ có ý chí, nhưng không đủ mạnh để thay đổi tình thế, ngay cả việc dạy dỗ đứa con duy nhất.

Nhật Tiến cũng viết về xã hội của giới văn nghệ sĩ, với Người Kéo Màn (1962) và ghi là "tiểu thuyết-kịch". Nếu Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan đem triết lý vào kịch thì Nhật Tiến đem thế-giới tiểu thuyết vào kịch. Phải chăng Nhật Tiến có mục đích giáo dục, xã hội, do đó đã thử nghiệm thể loại này? Không hẳn là một vở kịch để diễn viên trình bày, cũng không hẳn là một tiểu thuyết về thế-giới sân-khấu-về-khuya - cũng là thế-giới con người với đủ tài và tật, thích hào nhoáng, ít tác động, nhiều lý luận tư duy. Hạnh phúc ở đây thật mỏng manh. Người đọc và nhân vật được tác giả mời tham gia vào trò chơi, mà cũng không thể không tham gia. Nói đến sân khấu là nói đến đạo diễn, diễn viên, những thần tượng của một thế-giới. Nhật Tiến đưa người đọc và cả người xem vào trong hậu trường, nơi đó mặt trái buồn nôn được phơi bày. "Tà áo của nàng hất tung lại phía đằng sau. Hắn thấy một vệt sáng chiếu vào khoảng mù mịt đang ngự trị trong lòng mình" (tr. 95). Tác giả vở kịch (không phải tác giả Nhật Tiến) thú nhận: "Cái đau đớn nhất của anh là anh không biết phải hành động thế nào cho hợp lý cả. Không dám sống thực, do đó tự thấy là bịp bợm mà vẫn phải viết kịch,..." (tr. 13) để rồi đi đến chỗ cô độc đớn đau, người vợ đã không chung thủy. Những nhân vật lão kéo màn, người thiếu nữ trinh trắng, người nghệ sĩ thổi clarinette, đứa bé,... chỉ là những cái cớ cho người kéo màn - không hẳn là tác giả, Nhật Tiến, nói đến định mệnh. Các nhân vật đầy mâu thuẫn, cả tác giả Nhật Tiến, khiến có kịch tính! Màn đã kéo, những thần tượng gãy đổ, những sự thực đắng cay,... Nhật Tiến đi con đường ngược với Bertolt Brecht là người muốn diệt hấp lực của truyện kể ở kịch, chối bỏ sự thật, diễn viên diễn xuất và mời gọi người xem suy nghĩ về tấn kịch được trình bày thay vì để lịch sử thâu tóm hết!  

 

Hướng về dân tộc và tương lai

Cả sự nghiệp viết văn, Nhật Tiến luôn tin tưởng nơi con người, dù đó là đứa trẻ mồ côi, trẻ đánh giày, người đạp xích lô, hay một nữ tu, một trí thức, nhà văn,... Nhân vật của ông dù tuổi đời, hoàn cảnh, địa vị xã hội khác nhau nhưng tất cả đều có một niềm tin hoặc lạc quan nơi tình người và những giá trị nhân bản. Tâm hồn nhân ái của Nhật Tiến hướng thượng, tin ở đấng toàn năng sáng tạo vũ trụ hoặc có liên hệ nhân quả với con người ở trần thế. Niềm tin này mãnh liệt, bền vững. Với một cái nhìn tinh đời, hiểu biết nhưng không tàn độc.

Nhật Tiến có một ngôn ngữ trong sáng, rõ rệt, như tiếp thừa văn phong của Tự-Lực văn-đoàn - các tác phẩm đầu của Nhật Tiến được các nhà Phượng Giang, Đời Nay và Ngày Nay của Tự-Lực văn-đoàn xuất bản và ông có nhiều truyện đăng trên giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay. Một lòng chân thành, với cái nhìn tinh tế, thâu suốt. Với ngôn ngữ đó, một lối hành văn đó, dù để thả hồn nhung nhớ một thời ấu thơ hay biện hộ quan điểm xã hội cấp tiến của nhà văn. Văn Nhật Tiến hiền, kết thúc vui, lạc quan hoặc tránh nói đến cái bi đát thường dễ xảy ra, và ở những cảnh tả phụ nữ, tác giả tránh đi sâu vào chi tiết sắc đẹp thể chất, hình như người nữ "hấp dẫn" nhất dưới ngòi bút của ông là chị Sinh trong truyện Kẻ Nổi Dậy ("cả một nửa người trắng như sữa", "sức nóng như muốn làm nổ tung bộ ngực đầy đặn căng lên như hai cái bình sứ", "bộ ngực của chị dính sát vào những khoảng áo ướt sũng, căng tròn như hai cái cóng sứ"). Trong các tác phẩm đã xuất bản của Nhật Tiến, người đọc tìm thấy những vấn-đề  lớn nhỏ của xã hội Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, nhưng sẽ không tìm thấy dấu vết của những trào lưu thời thượng như hiện sinh, Tiểu thuyết mới, cả những phân-tâm mà Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Duy Lam đã thử nghiệm. Nhật Tiến khởi nghiệp với những trẻ mồ côi, nói lên tấm lòng của ông đối với những đưa trẻ bất hạnh, trong cái bất hạnh chung! Giới văn-nghệ cũng được ông hơn một lần đưa vào tác-phẩm như nhân-vật Tân và Vũ trong Vách Đá Cheo Leo. Những bước tư tưởng của Nhật Tiến chứng tỏ thêm một điều rằng nghệ thuật phải đi một nhịp với thời đại, và nếu được vậy nghệ thuật mới có thể sống lâu!

Tạp chí Hành Trình năm 1964 đã làm một cuộc "Trưng cầu ý kiến bạn đọc về những tác phẩm văn học được nhiều người ưa thích nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây (1954-1964)" dự tính sẽ đăng trong số đặc biệt Nhìn lại 10 năm văn học miền Nam, nhưng chưa kịp ra thì báo ngưng xuất bản. Chủ-nhiệm Nguyễn Văn Trung mới đây thu thập những bài chưa in, cả những thư viết tay lập thành một "Hồ Sơ Về Tạp Chí 'Hành Trình'" (3), trong đó ông công bố danh sách các tác phẩm được ưa thích nhất, về tiểu thuyết có 21 tác phẩm thì Nhật Tiến đã có 4 tác phẩm được chọn, 2 được xếp hàng đầu là Mây Hoàng HônThềm Hoang, tiểu thuyết kịch Người Kéo Màn hạng 7, và Những Người Áo Trắng thứ 11. Tưởng cũng cần nói ở đây là độc-giả của tạp chí Hành Trình phần lớn là sinh viên và trí thức miền Nam lúc bấy giờ!

Nhật Tiến thời trẻ năng nổ, hăng hái, hội viên rồi phó chủ tịch Văn Bút, phê bình sách, viết tổng kết văn nghệ, tình cảnh nhà văn, v.v. Ông tin nhà văn có sứ mạng đối với tập thể, tin ở vai trò nhân chứng. Lúc nào ông cũng tin tưởng liên hệ vững chắc giữa người viết với người đọc. Sáng tác là để được đọc, viết là đến với tha nhân. Trong một  phỏng vấn của Mai Thảo trên tạp chí Văn hải ngoại (4), Nhật Tiến tự nhận mình là một nhà giáo hơn là một nhà văn. Thời ông, Võ Hồng cũng là một  nhà giáo viết văn, sáng tác từ vị thế và kinh nghiệm của một nhà giáo, trong khi Nhật Tiến cũng hành nghề nhà giáo nhưng trong văn chương ông tự khoác thêm cho mình sứ mạng giáo-dục, như kẻ sĩ ngày xưa. Nghĩa là không làm chính trị theo nghĩa đảng phái, chế độ hay chủ nghĩa. Chính ông có lần thú nhận thời viết Thềm Hoang (1958-1961), ông đã có cái nhìn hạn hẹp khi nghĩ rằng "công việc cải tạo xã hội không thuộc vào trách nhiệm của người cầm bút, nó thuộc về lãnh vực của những chính trị gia hay những nhà lãnh đạo đương quyền..." (4). Các tác phẩm của ông đã chứng minh điều đó, rằng nhà văn Nhật Tiến có một sứ điệp và những ước vọng chân thành! Những thị phi, chụp mũ đã và sẽ rơi vào quên lãng của dư luận, nhưng tác phẩm và ý tưởng, chân tình của ông sẽ còn sống lâu hơn! Nhật Tiến thuộc lớp nhà văn làm văn hóa với quan niệm văn hóa như là một phương tiện chứng minh sự hiện hữu cao quý của con người trong lịch sử. Thế giới tiểu thuyết của Nhật Tiến là cánh cửa mở rộng chân trời để con người sống với hy vọng, sống xứng đáng với đồng loại và lịch sử!

[Nhà văn Nhật Tiến mất tại Irwine, Nam California ngày 14-9-2020 không lâu sau khi phu nhân là nhà văn Phương Khanh qua đời, ngày 26-8-2020].