Tuesday, September 18, 2018

780. Thơ LÊ VĂN TRUNG Lời cám ơn

Ảnh: Google image


Xin cám ơn những con đường tôi đã đi qua
Những hàng quán, những vỈa hè buổi sớm
Những người đến, người đi không hò hẹn
Và cả nỗi buồn bỏ lại hay mang theo

Tôi cám ơn từng chiếc lá vàng bay
Bay cuống quýt trên tóc chiều bối rối
Xin cám ơn những con đường tôi chưa hề đi tới
Những bến bờ trong vạn nỗi chờ mong

Cám ơn suối nguồn và những dòng sông
Những bèo bọt của một thời dong ruổi
Những chuyến đò ngang tay chèo rã mỏi
Còn lênh đênh nghe sóng vỗ mạn thuyền

Xin cám ơn người dù nhớ hay quên
Tôi vẫn nguyện trải lòng mình trong vắt
Xin cám ơn những lở bồi còn mất
Những dòng sông và những cây cầu

Cám ơn cả nguồn hạnh phúc và nỗi thương đau
Giọt nước mắt long lanh và nụ cười rạng vỡ
Ôi cõi trần gian, cuộc hành trình dang dở
Tôi vẫn đi cho trọn kiếp con người.

LÊ VĂN TRUNG

Monday, September 17, 2018

779. Thơ TRẦN HOÀI THƯ Ở một nơi không quen mà rất quen

Photo by Phạm Cao Hoàng, Đà Lạt, tháng 9.2017


Nơi  có những  người xa lạ mà như đã quen thân
Nơi có những người chưa gặp nhau mà ngỡ gặp nhau từ tiền kiếp
Nơi có một sợi dây vô hình nhưng vững bền nối kết
Từ thời thanh xuân mãi đến lúc tuổi già
Nơi mà chúng ta xem đó là mái nhà
Để những kẻ   từng có mặt cùng nhau bồi hồi nhớ lại
Nơi mà thời gian không sao cướp đoạt
Nơi mà vạn dặm thành tấc thành gang
Nơi mà nỗi vui buồn được xẻ  chung nhau
điếu thuốc cơ hàn nhả ra khói tình tri kỷ
Nơi đó là nơi nào, ở đâu, bạn nhỉ
Có phải là miền Nam, ở cõi văn chương !?


TRẦN HOÀI THƯ

778. NGUYỄN ÂU HỒNG Làng Biển “Du Canh-Du Cư” ở Bắc Vân Phong


NGUYỄN ÂU HỒNG
Làng Biển “Du Canh - Du Cư”
ở Bắc Vân Phong

Bản đồ vịnh Vân Phong và bán đảo Đầm Môn (Hòn Gốm) 
huyện Vạn Ninh - Khánh Hòa .
Mũi Đôi-Hòn Đầu nằm phía đông-nam Bãi Rạng.

Trên bản đồ có một đường xanh đậm đứt khúc từ cuối một bãi cát vừa thẳng vừa dài kéo xiên xiên hướng tây-đông, bọc qua một ngọn núi xanh, tiếp tục chạy thẳng ngoài khơi một bãi cát trông như cái mỏ lết mở rộng rồi quặp vô Bãi Rạng. Đây là đường biển đưa du khách đi tham quan danh thắng Mũi Đôi-Hòn Đầu. Bãi cát nơi xuất phát là Bãi Võ, ngọn núi xanh là Hòn Gầm, bãi cát trông như cái mỏ lết là bãi Cát Thắm.
Không rõ chuyên viên lữ hành của công ty du lịch nào đã lập nên hành trình (itinerary) này. Nhìn qua thấy đây là một itinerary khá hoàn hảo: Đi xe từ Nha Trang ra tới chân đèo Cổ Mã (non 80 km), rẽ phải vào con đường xuống Đầm Môn (18Km), dừng lại ở cuối Bãi Võ, đi bộ một quãng ngắn mấy trăm mét là lên tàu đến khu danh thắng cấp quốc gia. Nếu cắm trại ở lại qua đêm thì sáng hôm sau, du khách sẽ vinh dự là người đầu tiên trên toàn cõi Việt Nam nhìn thấy mặt trời mọc sớm nhất. Với du khách đã lấy phòng ở lại một trong những khách sạn của bán đảo Đầm Môn, hành trình này cũng tạo điều kiện cho khách đón ánh mặt trời sớm nhất, chỉ với một  động tác đơn giản- dậy sớm lên tàu ra Bãi Rạng.
Đó là những ưu điểm. Ta thử tìm hiểu xem nó có tiềm ẩn nhược điểm nào không?
Theo các hào lão trong vùng, hải trình này có nhiều rủi ro: -gặp nồm mạnh, tàu thuyền có khi bị thổi giạt ra tận Phú Yên, ngược lại nếu gặp bấc mạnh, rất dễ bị thổi giập vào các gành đá. Cụ Bốn (Trâu) ở Hòn Ông, một tài công của “Đường mòn trên biển” nói, ông đã mấy lần gặp “nồm săn” đẩy ghe (máy mười) chở gỗ từ Bãi Rạng lên Đại Lãnh ra tuốt Vũng Rô, phải ngủ qua đêm đợi sáng hôm sau trời yên biển lặng mới chạy vô lại. “Bị đẩy đi rồi cũng về lại được thôi, chỉ sợ giữa đường va vào vách đá Hòn Nưa hay đâm đầu vào gành Mò O gần Mũi Điện thì tiêu tùng”.
Thử lùi lại xa hơn, thời ghe bầu các lái đi buôn:
“Ngửa mặt trông vào Bãi Võ giăng ngang
Hòn Gầm sóng vỗ đá vang
Chạy khỏi Cát Thắm lại sang Đồi Mồi    
Anh em lời thốt thương ôi
Đi bảy ngày trời mới tới Bà Gia…”
Vè Các Lái-Hát Vô (1)
Bà Gia là tên các lái ghe bầu người Huế gọi mũi Bà Dầu, ngày nay được đổi thành Mũi Đôi cho phù hợp với địa hình rồi được Bộ VH-TT-DL Việt Nam phong danh hiệu khu di tích danh thắng cấp quốc gia Mũi Đôi-Hòn Đầu.
Trích đoạn bản đồ
“Điều Chỉnh Quy Hoạch Chung Xây Dựng Khu Kinh Tế Vịnh Vân Phong Đến Năm 2030”.
Hành trình (itinerary) vạch trên bản đồ du lịch trùng hợp y chang với hải trình xưa của các lái ghe bầu. Ngày xưa, ghe bầu chạy bằng buồm kết hợp chèo tay, gặp gió chướng, quần cho bảy ngày mới qua khỏi một đoạn đường biển không quá mười hải lý, từ Hòn Gầm đến Bà Gia. Ngày nay, với tàu du lịch hiện đại, cho dẫu có “nồm thổi săn” hay “bất giật mạnh”, cũng không đến nỗi xảy ra “sự cố”, đừng quá lo xa? Tình thiệt, biết nguy hiểm mà không nói là thâm, nên tôi bộc bạch, và xin đề nghị: hướng dẫn lữ khách đi bộ. Trong các itinerary lữ hành, một lịch trình có vài-ba giờ đi bộ/ngày đang được ưa chuộng.Hơn nữa đoạn đường đi bộ từ Đầm Môn đến Mũi Đôi không có gì nguy hiểm (đèo dốc trơn trợt hay hố sâu…) lại có cảnh quan trời mây non nước biến đổi kỳ ảo, là một đoạn trekking tuyệt vời. Có câu hỏi này: sao tour du lịch không thấy nói gì đến làng bán đảo Khải Lương tên dân gian gọi là Bãi Giếng? Làng bán đảo này có điểm đặc biệt: là nơi cư dân nhìn thấy mặt trời đầu tiên trên toàn cõi Việt Nam và Đông Dương. (Ở tỉnh Khánh Hòa có hai làng Bãi Giếng: làng Bãi Giếng-Khải Lương ở vị trí cực đông bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh và làng Bãi Giếng-Thủy Triều ở Cam Ranh- nay thuộc huyện Cam Lâm).
*
Nói bán đảo Đầm Môn có ba thôn: Đầm Môn thượng, Đầm Môn hạ và Xuân Đừng cũng được nhưng thiếu chính xác, vì Xuân Đừng  cách xa Đầm Môn và là một đơn vị hành chánh riêng.
Có một đặc điểm: người dân khắp vùng bán đảo đào giếng lấy nước ngọt cho tàu thuyền, giếng thường chỉ ba ống bi và cách biển chừng mươi thước. Không cần đào sâu tốn bi, cũng không cần đào xa tốn đường dẫn.Nước ngọt hẳn hoi, không bị lợ cũng không một bợn chua phèn. Riêng Xuân Đừng, chọn nơi xa xa xóm nhà về cuối bãi, chỉ cần đào một hố sâu vài-ba gang tay cách mí nước mặn không quá mười bước chân, là có nước ngọt. Đây là nét độc đáo có thật.(Tôi biết bí mật này, nhưng nói ra thì mất hay.) Thêm một nét độc đáo nữa của Xuân Đừng, mà đa số là người “Đàng Hạ”: người dân ở đây không bao giờ quét nhà bằng chổi. Theo truyền thống, nền nhà của người “Đàng Hạ”(2) không lót gạch, đá, cũng không tráng xi-măng.Nền trong nhà, hiên quanh nhà, giống như ngoài bãi, toàn là cát. Người ta ‘quét nhà’ bằng cách dùng cái sàng gạo để sàng cát cho sạch. Lâu lâu, thấy cát xỉn màu, nếu có sàng cũng không sáng đẹp, họ xúc cát trong nhà đổ đi, xúc cát mới ngoài bãi đổ vào thay thế.
*
Bán đảo Đầm Môn có diện tích 128 Km vuông, là một phần của bán đảo Hòn Gốm. Đầm Môn là vùng có dân cư đông nhất, 8.000 dân, lại đang thu hút đầu tư về nhiều mặt như cảng trung chuyển quốc tế, khai thác &chế biến khoáng sản, khu nghỉ dưỡng, du lịch lữ hành…nên trên một số bản đồ, nó đã lấn mất tên Hòn Gốm. Đầm Môn chỉ chiếm 1.000 ha mặt nước trong tổng số 10,000 ha của toàn vịnh Vân Phong, nhưng là vùng biển lặng gió vì được đảo Hòn Lớn hợp với các ngọn núi cao của bán đảo Hòn Gốm che chắn. Người dân Đầm Môn đi biển đánh bắt thủy sản qua hai hướng, hướng Cửa Lớn vào vùng vịnh, hướng Cửa Nhỏ ra khơi.Vào ngày biển độngkhông ra khơi được,chỉ cần nhích ghe ra cách bờ năm bảy trăm mét, bỏ neo chong đènđánh lưới ngay trước nhà.Tuy chỉ nhằm kiếm cá ăn, bán chút ít bù tiền dầu thôi, không có hiệu quả kinh tế, nhưng cũng là một nét đặc trưng.
Lạch biển Cửa Nhỏ dẫn ra khơi được tạo bởi rặng Hòn Nhọn của bán đảo Hòn Gốm và đảo Hòn Lớn, hơi chếch về hướng đông-nam, nên vừa mở ra khỏi cửa là gặp vịnh Hòn Khói thuộc Ninh Hòa, là một vùng đánh bắt không mấy hấp dẫn. (Tỉnh Khánh Hòa có hai đảo cùng có tên Hòn Lớn, một trước mặt thành phố Nha Trang; một ở Vạn Ninh- cùng với bán đảo Hòn Gốm tạo nên vịnh Vân Phong này đây).
Muốn đến vùng biển giàu thủy sản phải đi ra hướng Mũi Điện thuộc tỉnh Phú Yên.  Gần nhà xa ngõ, hành trình cách trở:từ trong đầm ra đến Bãi Giếng, bẻ lái qua phải ra khỏi Cửa Nhỏ lại phải bẻ trái đi bọc một vòng cực đông bán đảo, luồn lách qua vũng Trâu Nằm, qua Bãi Trường, Bãi Na, Mũi Đôi (Bà Dầu-Bà Gia) rồi Bãi Rạng, mũi Đồi Mồi, Xà Cừ, bãi Cát Thắm, Hòn Gầm, trong đó có đoạn ẩn chứa nhiều bất trắc như đoạn hải hành du lịch đã nêu. Hơn nữa, đánh bắt phải đi kèm tiếp liệu và tiêu thụ, chế biến và hậu cần…Để tránh những cách trở này, người dân vùng bán đảo Đầm Môn đã có một quyết định táo bạo: dời làng “du canh-du cư.” (*)
Đây có lẽ là làng biển “Du Canh-Du Cư” duy nhất ở Việt Nam.
Vùng ‘du canh’, là vùng biển phía đông-bắc bán đảo Hòn Gốm giáp với Vũng Rô ra Mũi Điện tỉnh Phú Yên; còn ‘du cư’, dời làng đi đâu?Nhà xây gạch, một số đúc bê-tông mái bằng, làm sao dời?
Họ dời làng ra Bãi Võ, chiếm một đoạn từ chân Hòn Gầm kéo dài lên khoảng một ngàn mét, dựng nhà làm hai dãy dọc bờ biển. Nhà ở đây đa số lợp tranh, một số lợp tôn, không có nhà ngói.Làng “du cư” đã có sẵn mấy giếng nước ngọt, giếng nước ngay sau khu nhà, cách biển không xa.Tùy theo thời tiết, trễ sớm năm bảy ngày, nhưng cứ Ăn tết Nguyên Đánxong là chuẩn bị dời làng. Mùa vụ chính từ cuối tháng giêng đến đầu tháng mười.Đánh lưới xong, từ biển không về làng mà vào Đại Lãnh tiêu thụ sản phẩm và nhận hậu cần.Xong đâu đấy mới về Bãi Võ,bỏ neo cho tàu đậu ngay trước nhà. Dù là nhà “lắp ráp” nhưng cũng đủ chỗ để sinh hoạt,  nghỉ ngơi. Gặp lúc được mùa, ở làng du cư Bãi Võ, quán xá ăn nhậu còn vui nhộn hơn bên làng chính. Đến tháng chín, tháng mười biển bắt đầu động bấc thì giở nhà, thứ gì vận chuyển được bằng đường bộchất lên xe ( từ 2002 đã có đường nhựa) hoặc gánh dần về, còn lại chất hết lên tàu đi đường thủy. Trong suốt thời gian dời làng “du canh-du cư”, trẻ con và thanh thiếu niên vẫn ở lại làng cũ đi học, phụ nữ chạy đi chạy về hầu như hàng ngày, còn đàn ông đi biển đôi ba bữa mới về nhà chính. Có xa xôi gì bao nhiêu, chỉ là mặt bấc-mặt nồm cách nhau ba bốn cây số qua mấy đồi cát.
Lưu ý, đang lầm lũi bước, đến giữa đường dừng lại, ngước lên nhìn thì phía bắc là biển Đại Lãnh- Vũng Rô xanh thẳm lạ thường, phía nam là mây nước Đầm Môn-Vân Phong biến ảo đến mê đắm.
Đã mê đắm thì còn viết gì nữa, đọc gì nữa!
Vậy mà vẫn còn có chuyện cần phải viết.
Những ngày mùa hè năm 2018, người Việt trong nước từ Nam chí Bắc vàngười Việt hải ngoại ở nhiều nước trên thế giới đã đồng loạt xuống đường biểu tình kịch liệt phản đối Dự Luật Đặc Khu, tức Dự Án Luật Đặc Khu Hành Chánh-Kinh Tế Đặc Biệt. Dự Án này chọn ba vùng lãnh thổ có tính chiến lược sinh tử của Việt Nam, là Vân Đồn (Miền Bắc), Bắc Vân Phong (Miền Trung) và Phú Quốc (miền Nam). Ngoài địa điểm có tính chiến lược, cả ba đặc Đặc Khu trong Dự Luậtđều làkhu di tích danh thắng cấp quốc gia. Quần đảo Vân Đồn có Vườn Quốc gia Bái Tử Long và Khu bảo tồn thiên nhiên Ba Mùn; Bắc Vân Phong ngoài Khu di tích danh thắng Mũi Đôi-Hòn Đầu, còn  có tài nguyên nhân chủng: làng biển “Du Canh Du Cư”, làng ”Người Đàng Hạ” Xuân Đừng, làng biển Mặt trời mọc Bãi Giếng; huyện đảo Phú Quốc ngoài Vườn Quốc gia Phú Quốcvà Công viên biển An Thới ra, toàn huyện được nhà nước Việt Nam xác nhận bằng nhiều văn bản qua hai đời thủ tướng (Nguyễn Tấn Dũng-Nguyễn Xuân Phúc)là huyện có rừng-biển đa dạng sinh họcvà được UNESSCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Những vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên này không chỉ là khu bảo tồn sinh quyển trên cạn mà còn là nơi bảo vệnguồn sinh vật và nguồn nước ngọt trên đảo.
Đem các vùng lãnh thổ có tính chiến lược sống còn của tổ quốc ra làm Khu Hành Chánh-Kinh Tế Đặc Biệt để có cớ cho nước ngoài thuê dài hạn (99 năm) và cả việc cấp sổ đỏ cho quyền được sở hữu vình viễn (3) là một hành động điên rồ; đem các  khu di tích danh thắng cấp quốc gia và vườn quốc gia ra làm Đặc Khu Kinh Tế, là nơi được nhập rác thải công nghiệp, xác tàu, chế biến hóa chất, sản xuất vũ khí và nhiều công nghệ độc hại…(**) thì đó là con đường của hủy diệt.
Sắp bị hủy diệt rồi thì còn viết gì nữa! Sắp bị tiêu vong rồi thì còn đọc làm gì nữa!
Vậy mà vẫn thấy cần phải viết, cần đọc, cần quảng bá để cùng góp tiếng nói, phản đối Dự Luật Đặc Khu.Từ tiếng nói của năm mười người, nhân lên thành trăm thành ngàn, thành vạn, thành triệu…Một khi tiếng nói của người dân Việtkiến tạo được niềm tin kết đoàn, trở thành âm điệu của ước vọng dân tộc, tha thiết khẩn cầu nhưng không kém phần quyết liệt, thì không sức mạnh của quyền lực nào có thể dập tắt được.
2016-2018
NGUYỄN ÂU HỒNG
_____________________________________________________
(1) Vè Các Lái, bài vè dài trên 500 câu được xem là cẩm nang hải hành cho ghe thuyền đi ven biển từ Huế vào Gia Định (hát vô) và ngược lại (hát ra). Ngoài giá trị thực tế, bài vè còn được tham khảo về nhiều mặt: địa lý, lịch sử, thới tiết, danh lam thắng cảnh, phong tục tập quán…
(2) Có giả thuyết cho rằng Người Hạ có nguồn gốc từ nền văn minh Óc Eo quanh núi Thất Sơn, An Giang.
(3) Xem https//www vinpearl.com-Quyền Sở Hữu Vĩnh Viễn.
(*) Cũng thì chọn vùng biển có năng suất cao để đánh bắt, nhưng chỉ đi năm-mười bữa rồi về, người dân biển gọi là “đi lựa”. Ghe “đi lựa”, gia đình vợ con ở nhà.
(**) Xem Phụ lục về 131 ngành nghề đính kèm Dự Luật Đặc Khu.

PHẦN XEM THÊM
Từ nhiều thập niên qua, Vịnh Vân Phong đã được tỉnh Khánh Hòa quy hoạch là Khu kinh tế tổng hợp. Các văn bản gần đây, có: Quy Hoạch chung khu kinh tế Vân Phong tỉnh Khánh Hòa đến  2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại QĐ 51/2005/QĐ-TTg ngày 11/3/2005 với tính chất là khu kinh tế tổng hợp, trong đó cảng trung chuyển container quốc tế giữ vai trò chủ đạo, kết hợp phát triển kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lãnh vực gồm du lịch, dịch vụ, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các ngành nghề khác.
Ngày 27/12/2014 chính phủ lại phê duyệt Quy Hoạch Vịnh Vân Phong, và mới nhất là Quy Hoạch Đặc Khu Kinh Tế Bắc Vân Phong vào tháng 8/2018.Qua đó, đã thông qua việc mở rộng gấp đôi diện tích quy hoạch ra toàn huyện Vạn Ninh và một phần huyện Ninh Hòa với tổng diện tích 111.000 ha (56.000 ha mặt đất + 55.000 ha mặt nước).
TỈNH KHÁNH HÒA
ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG KHU KINH TẾ VỊNH VÂN PHONG ĐẾN NĂM 2030
SƠ ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT - TỶ LỆ: 1/40.000


Tại kỳ họp thứ 5.ngày 11 tháng 6 năm 2018, với đa số phiếu áp đảo (423/432), Quốc hội Nước CH XHCN Việt Nam đã loại khỏi chương trình việc thông qua Dự Luật Đặc Khu, tức Dự Án Luật Đặc Khu Hành Chánh - Kinh Tế Đặc Biệt, và được quyết định lùi lại kỳ họp thứ 6, tháng 10 năm 2018. Vậy mà, tỉnh Khánh Hòa vẫn ngang nhiên công bố Bản đồ QUY HOẠCH KHU KINH TẾ VỊNH VÂN PHONG ĐẾN NĂM 2030. Xem bản đồ ta thấy, không chỉ Bắc Vân Phong mà toàn bộ đồng bằng, bán đảo, hải đảo và vùng biển của cả huyện Vạn Ninh và một phần huyện Ninh Hòa đều được đưa vào quy hoạch.
(nguồn: https:/nhadatbacvanphong.Vn/ban-quy-hoach-vinh-van-phong)
N.Â.H

Sunday, September 16, 2018

777. TRẦN DOÃN NHO Vài suy nghĩ rời về chữ và nghĩa



Người ta nói bây giờ là thời kỳ bùng nổ thông tin, thời kỳ của truyền thông, tức là thời  Internet, báo chí. Nhưng đế có truyền thông, phải có “chữ”. Không có thông tin, không có Internet, không có media nếu không có chữ. Ở đâu cũng cần đến chữ. Hàng ngày, chúng ta sống với chữ. Mọi chuyện trên đời đến với ta đều phải băng qua ngưỡng chữ. Chữ vây hãm chúng ta. Tới trường, học chữ. Tới sở, đọc chữ. Ra phố, nhìn chữ. Vặn máy thu thanh, nghe chữ. Gặp bạn, nói chữ. Tỏ tình, chữ. Chia tay, chữ. Xin việc, chữ. Suy gẫm chuyện đời, chữ. Sáng tác, tìm chữ. Viết tiểu luận, nghĩ chữ. Lên mạng, chạm ngay từng rừng chữ. Trùng trùng điệp điệp chữ, mênh mông chữ!

Chữ chỉ là ký hiệu, hoặc bằng âm thanh (tiếng nói) hoặc bằng nét vẽ (chữ viết), nhưng cái quan trọng đi kèm với ký hiệu là cái “nghĩa” mà người ta gán cho chúng. Bởi thế mà người ta thường nói: chữ nghĩa hay thế giới chữ nghĩa. Muốn hiểu nghĩa của một chữ, chỉ có việc tra tự điển. Mỗi chữ thường thì gắn liền với một nghĩa. Nhưng khi ghép chữ thành câu, thì nghĩa biến đổi. Từng chữ có thể mất đi nghĩa thường có của nó để cấu tạo thành một nghĩa khác, nghĩa mới. Từ một nghĩa đi đến hai, ba nghĩa và nhiều nghĩa hơn. Do đó mà tự điển đã ghi lại những nghĩa khác nhau đó để ta tùy nghi sử dụng. Vài ví dụ:

- Cửa: một khoảng không gian giữa nhà và bên ngoài: cửa nhà. Từ đó, ta có cửa miệng, cửa động, cửa sông và xa hơn cửa quan, cửa quyền…
- Miệng: một bộ phận của thân thể dùng để ăn. Nhưng rồi ta có: miệng giếng, miệng chén, miệng mồm và xa hơn thế, miệng thế gian, miệng tiếng, độc mồm độc miệng…Miệng mà như không phải miệng. Nó chuyển nghĩa.
- Ăn: một động tác bỏ thực phẩm vào miệng. Nhưng rồi ta lại có: ăn tiền, ăn vóc học hay, ăn mặc, ăn trên ngồi trốc, ăn quỵt, ăn cướp, ăn nắng, ăn ảnh. Có nhiều chữ “ăn”, nhưng chẳng dính dáng gì đến chuyện “ăn” cả. Theo một người sưu tầm, chữ ăn hiện nay có đến 12 nghĩa khác nhau.
- Đưa: là lấy tay cầm một vật gì chuyền cho một người khác: đưa cái chén, đưa cuốn sách…Thế nhưng: đưa em đi học chẳng hạn, chữ “đưa” chuyển hẳn nghĩa. Đưa ởđây là “đi” cùng với sự bằng lòng (nếu đi cùng nhau mà em không bằng lòng cũng không thể gọi là đưa), chứ chẳng chuyền, chẳng cho ra cái gì cả. Xa hơn, “đưa em về dưới mưa”, “tôi đưa em sang sông”, đưa trở thành một hình ảnh bóng bẩy.

Như thế, do cách dùng, chữ biến đổi nghĩa. Chẳng thế mà, cũng một số chữ mà khi Cộng Sản dùng nghe ra khác, có khi hoàn toàn khác với chữ của người Quốc Gia. Cộng Sản nói: khẩn trương, lính thủy đánh bộ, giải phóng, giáo án, hộ khẩu, bao cấp, truy chụp, bức xúc, làm việc, tranh thủ, ổn định chỗ ngồi, sự cố, vân vân và vân vân. Nghe lạ, rất lạ. Lạ, không phải vì họ có chữ mới, mà họ dùng chữ theo một cách khác, khiến cho ý nghĩa khác hẳn đi. Thử nghe lại một đoạn: “Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền.” Đây là một đoạn ngắn trích từ bản “cương lĩnh” của đảng Cộng Sản. Nghe thì rất kêu, nhưng so với thực tế thì chúng không những không chứa đựng một ý nghĩa thực sự nào, nếu không muốn nói là vô nghĩa khi đối chiếu với thực tế.

Vậy, do cách sử dụng mà mỗi một chữ tự nó có thể có nhiều nghĩa. Những nhà ngữ học gọi đó là tính “đa nghĩa” (polysémie), không phải là đơn nghĩa (monosémie). Qua thời gian, theo giòng sinh hoạt của xã hội, của cộng đồng, chữ có thể mất đi một số nghĩa (vì không cần dùng nữa) và cũng có thể tích lũy nghĩa. Chữ chứa thêm nghĩa mới không hề xóa đi nghĩa cũ. Chẳng thế mà, cha ông ta có câu:

Lời nói không mất tiền mua/Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

“Lựa lời” tức là chọn chữ, chọn nghĩa. Xa hơn, văn chương là một nghệ thuật lựa lời. Đọc thử mấy câu thơ của Nguyên Sa:
  
Không có anh lấy ai đưa em đi học về ?
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học?
Ai lau mắt cho em ngồi khóc?
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa ?
Những lúc em cười trong đêm khuya,
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng?
          
Chắc chắn là ông nhà thơ chẳng “đưa”, chẳng “dìu”, mà chỉ đi bộ theo, hoặc là chở trên xe (xe hơi, xe honda, xe đạp). Còn “cười trong đêm khuya” và “nhìn những đường răng em trắng” thì thật không có cách gì để tin đó là chuyện thực. Chẳng ai, dù yêu đến cách mấy, mà lại chịu khó ngồi đâu đó mãi, đề chờ nhìn những đường răng của em cười trong đêm khuya. Vả lại, có ai làm thế thật, thì chẳng biết làm để làm gì! Ấy thế mà, chẳng ai thắc mắc (trừ…tôi!) cái nghĩa mà nhà thơ muốn nói. Ngược lại, người ta thưởng thức cả chữ và nghĩa mà nhà thơ đã sáng tạo ra. Thưởng thức cả cái nghĩa lẫn cái “vô nghĩa” của câu thơ. Khiến cho câu thơ tồn tại và không những thế, làm rung động và đồng thời cũng làm hành trang cho những người yêu nhau, yêu nhau da diết.

Điều đó cho thấy bằng cách tạo ra nghĩa mới, chữ có tác động vô cùng to lớn vào cuộc đời. Chúng làm biến dạng, thay đổi hay thậm chí tạo ra hiện thực. Một lý thuyết hay có thể chuyển đổi khuôn mặt xã hội và nếp sống hàng ngày.Một cuốn sách, một bản tuyên ngôn, đôi khi một câu khẩu hiệu, có thể huy động người ta lao vào chỗ chết.

Trong cuộc đời thường, chữ làm vui nhau mà cũng làm đau nhau.

Giận, lấy chữ mà giận. Thù, lấy chữ mà thù. Yêu, cần chữ để yêu. Nhớ nhung cũng phải có chữ mà nhớ.Lắm lúc, thêm một chữ thì chia lìa, bớt một chữ mà đoàn tụ.Ghét nhau thì ném chữ, bắn chữ, đôi chữ, mắng chữ (những chữ bẩn thỉu, tục tằn, xấu xa) vào mặt nhau. Thương nhau thì gửi chữ, tặng chữ, biếu chữ (những chữ thơm tho, đẹp đẽ) cho nhau.Chữ quấn quýt quanh ta không rời. Như hình với bóng. Như mặt trái mặt phải của một đồng tiền. Quay phía nào cũng đụng bức tường chữ. Bên kia bờ chữ là gỉ, ai mà biết.

Có cách gì chúng ta có thể bước ra ngoài ngôn ngữ để tiếp cận một thế giới thực sự?

Câu trả lời là: không!

Biết thế, các nhà nước độc tài toàn trị, trị dân bằng chữ. Họ bắt người dân xài một số chữ và cấm xài một số chữ khác.Ở Việt Nam, chữ phải xếp hàng về một phía. Bước qua phía bên kia thì sẽ nhận ngay một chữ: tù. Chẳng lạ gì, khi mới chiếm được miền Nam, việc đầu tiên mà nhà cầm quyền Cộng Sản làm ngay, là phát động phong trào bài trừ văn hóa đồi trụy, mà thực chất là tiêu diệt toàn bộ sách vở báo chí miền Nam, tiêu diệt chữ nghĩa miền Nam. Nó nhắc ta nhớ đến chính sách “phần thư, khanh nho” (đốt sách chôn học trò) thời Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa.

Cuộc đấu tranh giữa hải ngoại và nhà nước Cộng Sản Việt Nam bây giờ là cuộc đấu chữ, đấu nghĩa. Nhà nước Cộng Sản cố bít chữ, chận chữ. Người hải ngoại cố chọc thủng bức tường “ô nhục” để tuồn chữ vào trong nước bằng tất cả những phương tiện có được.

Nghĩ cho cùng, từ thuở tạo thiên lập địa cho đến bây giờ thi tuyết vẫn thế mặt trời vẫn thế, đêm ngày, trăng sao cây cỏ vẫn thế. Riêng với con người, chữ cho con người chu du vào một thế giới khác, thể giới ảo. Ảo mà vẫn thực. Con người muợn chữ để bày tỏ những gì không thể sờ, nắm, nghe hay thấy.

Chữ không nhất thiết là nghĩa. Chữ và nghĩa không nhất thiết tạo thành văn chương. Và văn chương không nhất thiết phải giống như đúc cuộc đời. Bởi nếu có làm cho giống đúc thì làm để làm gì? Cho nên phải làm cho khác. Cô dâu phải khác một cô gái. Bài thơ thì phải khác cơm, áo, gạo, tiền. Bài văn phải khác đất trời mây nước.

Nói tóm lại, văn chương là sử dụng chữ để thêm ý nghĩa cho cuộc đời.

TRẦN DOÃN NHO 
 ____________________________________________________  

Tham khảo:

-       Chữ, nghĩa, văn chương và cuộc đời, Người Việt Boston 
-       Một số tài liệu về ngôn ngữ trên Internet.   

776. Thơ PHẠM CAO HOÀNG Cha tôi

Ảnh: Google image

và bài thơ tôi viết đêm nay
là bài thơ sau bốn mươi năm
kể từ hôm vượt đèo Ngoạn Mục xuống Sông Pha
chạy ra Tuy Hòa
trở vô Sài Gòn
và nhận tin cha tôi đã chết
ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi  
để lại đàn con trên quê hương tan tác   
để lại trong tôi vết thương  mang theo suốt cuộc đời

bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương
rồi mùa thu cha đưa con đến trường
con thương ngọn gió nồm
mát rượi tuổi thơ những ngày đầu đi học
đi ngang qua Duồng Buồng (*) bọn nhỏ trong thôn vẫn thường trêu chọc:
chiều chiều ngọn gió thổi lên
học trò Thầy Bốn chẳng nên đứa nào
thương cha một đời lận đận lao đao
cầm lấy chiếc cày để tay con được cầm cuốn sách
thương chiếc áo cha một đời thơm mùi đất
thương đất quê mình thơm mãi mùi hương
rồi mùa thu cha đưa con đến trường
con thương những con đường
cha đã dẫn con đi về phía trước
con vẫn còn đi sao cha đành dừng bước
bốn mươi năm trời con thương nhớ, cha ơi!

PHẠM CAO HOÀNG
March 22, 2015
(*) Duồng Buồng: tên một lối đi trong thôn Phú Thứ (Tuy Hòa, Phú Yên)

Mương dẫn thủy bắt nguồn từ đập Đồng Cam (Phú Yên)
Photo by Phạm Cao Hoàng - Tháng 9.2017



…Dạo ấy, mỗi lần ghé Tuy Hòa, tôi ở lại cùng Phạm Cao Hoàng trong căn nhà nhỏ của gia đình Hoàng. Đọc bài thơ CHA   TÔI,  tôi nhớ đến ngôi nhà và hình ảnh của bác trai. Bác cao, hơi gầy và da ngăm đen. Cái đen của nắng và gió, của một người nông dân thuần chất. Hiền và độ lượng. Ngôi nhà có cái chái bếp nấu ăn bằng những thanh củi. Ngôi nhà có bộ ván ngựa   mà tôi với Trần Hoài Thư thường nằm ngủ. Ngôi nhà với lối đi từ đường Nguyễn Huệ vào với những thửa  ruộng nhỏ như vuông chiếu nằm, đầy ắp tình yêu thương. Đọc bài thơ, hình ảnh bác trai lại hiện ra trước mắt. Sao bác lại qua đời khi chiến tranh kết thúc vậy bác? Còn nỗi buồn nào hơn khi  chiến tranh  đã chấm dứt trên quê hương mà bác lại ra đi? Sao bác không ở lại để nhìn thấy các con của bác và bạn bè không còn phải sống trong cảnh mịt mù khói lửa của cuộc chiến tranh này? … (Trích bài viết ĐẤT VÀ NGƯỜI của Phạm Văn Nhàn)


Saturday, September 15, 2018

775. Thơ PHẠM CAO HOÀNG Mai kia tôi là hạt bụi

Bên rừng Scibilia,  photo by Phạm Cao Hoàng, 25 May 2018


hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
để một mai tôi về làm cát bụi
(TRỊNH CÔNG SƠN)
  
năm tôi vừa mười một tuổi
quê tôi bom đạn tơi bời
bóng  ma chiến tranh quay lại
hãi hùng ôi tuổi thơ tôi!

lớn lên dưới trời khói lửa
mẹ thương, lo từng bữa ăn
cha thương, lo từng giấc ngủ
chị thương, an ủi dỗ dành

rồi đến ngày tôi giã biệt
đường đời vạn nẻo tôi đi
đường đời trăm may nghìn rủi
vẫn mong có một ngày về

nhớ ngày tôi đi biển khóc
bóng cha tôi ở cuối đường
và cánh đồng trơ gốc rạ
đất còn thơm mãi mùi hương

nhớ ngày tôi đi mẹ khóc
ruộng vườn bỏ lại sau lưng
mây mù che ngang đèo Cả
đường xa mưa gió mịt mùng

tôi đi và tôi đi mãi
dừng chân ở lại cao nguyên
tưởng đâu đất lành chim đậu
nào ngờ  đời vẫn chưa yên

tôi đi và tôi đi mãi
quê nhà bỏ lại sau lưng
quê người gian nan vất vả
đường xa mây khói mịt mùng

tôi đi và tôi đi mãi
tôi đi tìm một mái nhà
rồi một ngày kia dừng lại
bên rừng Scibilia

những chiều mùa thu lá rụng
những ngày lạnh buổi đầu đông
nhìn mây bay về cố xứ
nhớ quê hương đến thắt lòng

bây giờ còn mong chi nữa
tha phương gửi nắm thân tàn
mai kia tôi là hạt bụi
bay về phía Thái Bình Dương

PHẠM CAO HOÀNG
Virginia,  November  2014