Tuesday, November 24, 2020

1847. DUYÊN Nơi chốn

Sleeping Bear Dunes, Michigan - Google image

Sleeping Bear Dunes

nơi mỗi năm ít nhất hai lần

tôi về ngang nơi đó

hình ảnh cồn cát cao, vài cây khô. trụi lá

đưa tôi về dĩ vãng.

 

những ngày hạnh phúc đơn sơ

có mẹ cha, các con còn nhỏ dại

những chuyến đi chơi xa. ấm áp:

cả nhà trên một chiếc xe van

ai cũng hớn hở cho ngày vui sắp đến

cùng nhau hạnh phúc.

 

sleeping bear dunes

nơi tôi đã qua bao nhiêu lần

nhân lên với tháng năm...

bao lần xúc động tôi

ngày êm ấm cũ...

 

sleeping bear dunes

đồi cát thật cao

dưới chân đồi nhìn lên. chỉ thấy mặt trời

cát chói chang

lấp lánh. biển kim cương

gió thổi. cuốn những hạt cát bay tung

như làn mây thật thấp.

 

sleeping bear dunes

hãy cùng tôi leo lên đỉnh đồi

như một lần chúng tôi

tìm kiếm cha tôi, khi ông xung phong đi tìm bọn trẻ

biến dạng trên đỉnh đồi cao

tôi nhớ dáng ông gầy, người nhỏ bé

sức ông. sức trượng phu.

 

ông. người tiên phong

đem đại gia đình vào Nam. năm 1954

ông. người nhất định

phải ra đi. tháng 4. 1975

vẫn là ông...

leo qua đồi cát này

tìm các cháu...

 

khi ông khuất dần trên đỉnh đồi

mặt trời xoá mờ bóng dáng ông

chúng tôi chợt mất hồn

cởi vội, vất giầy dép

bước trên cát nóng

tung nhau đi tìm ông và các cháu.

 

sleeping bear dunes

cát lún dưới chân

mặt trời chói chang trước mắt

đường lên đỉnh đồi khá gian nan

nhìn nhau lo ngại

khó như vầy. sao ông đi được

sợ ông hết hơi, thiếu nước

chúng tôi cắm cúi bước cho  thật nhanh.

 

cắm cúi bước…

cắm cúi bước...

cát lún sâu dưới từng bước chân

gió chợt thổi mạnh, cát tung bay

làn mây mù mù...cát.

 

sleeping bear dunes

chợt mầu xanh. nhoà trước mắt

ngước lên.nhìn

trời xanh. bao la

biển xanh sâu thẵm

mênh mông không bờ. bến

dưới chân đồi

bãi cát vàng tuyệt đẹp

một cụ già

bốn thằng bé con. đang đùa giỡn

sóng gợn lăn tăn, đưa nhẹ vào bờ

cảm giác bình yên. len nhẹ

như tôi đang đứng trước bức tranh

tuyệt tác của trời

vẽ. những người tôi thương yêu quá đỗi

vẽ. trái tim tôi

hạnh phúc. ngập tràn...

 

những năm sau này

các cháu lớn khôn

có việc làm, sống xa nhà

hứa sẽ về. những ngày lễ lớn

giữ lời...

chưa năm nào chúng tôi phải chia. xa...

 

đầu năm nay tôi tiễn mẹ đi

về với ngoại

cha tôi đợi. chờ. đã mấy năm...

bạn ơi, ở tuổi nào

mất mẹ cha cũng thành trẻ mồ côi

khi có chuyện quan trọng

tôi nghĩ đến cha

vui, buồn, hay lo âu

tôi nhủ lòng. về gọi mẹ

chợt nhớ ra

cha mẹ đã không còn...

 

thế mà...

năm nay. các cháu. không về

tôi không còn phải tìm Thanksgiving grocery shopping list

không giăng đèn quanh nhà. trước ngõ

khỏi dọn nhà cho thật sạch

khi bếp núc lạnh tanh

vắng tiếng trẻ cười.

 

năm nay.có biết bao gia đình

đón Thanksgiving. buồn lắm!

tôi thương người mẹ trẻ

gặp ngoài bưu điện

dẫn theo ba con nhỏ, đi gửi quà cho chồng

có lẽ: lính  ở xa...

mẹ con nheo nhóc quá

tôi muốn được ôm các em vào lòng

rồi, không dám…

 

tôi thương những người phải xếp hàng thật lâu

trong đoàn xe thật dài...

chờ lấy thực phẩm. con gà tây

cho ngày lễ Tạ Ơn

dọn bữa ăn

không thấy ai về...

 

đến bao giờ

người được gặp lại người

tôi thương người

hay tôi đang thương tôi…

 

duyên

11. 24. 2020.

Happy Thanksgiving

Monday, November 23, 2020

1845. THỤY KHUÊ Tự Lực Văn Đoàn - Văn Học Và Cách Mạng (3)


2- Sự thành lập Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa

Phần II

Những ngày vui của Khái Hưng

Trở lại Ngày Nay số 16 (12-2-36) là tờ báo mà Tự Lực văn đoàn dồn toàn lực vào sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, như để chứng tỏ: Chúng tôi chưa chết đâu. Trên tờ báo này, liền theo kịch Chết của Khái Hưng đăng ở trang nhất thay bài xã luận, là hai tiểu thuyết Những ngày vui của Khái Hưng và Lạnh lùng của Nhất Linh[1].

Lạnh lùng là một trong những tác phẩm chủ yếu của Nhất Linh, chúng tôi sẽ có dịp trở lại. Những ngày vui là tác phẩm thứ yếu của Khái Hưng, được viết trong bối cảnh Phong Hóa bị đe dọa đóng cửa; chắc hẳn với mục đích ghi lại "sự tích" Tự Lực văn đoàn, nếu một mai, tờ Ngày Nay cũng bị đóng cửa nốt.

Những ngày vui đăng trên Ngày Nay từ số 16 (12-7-1936) đến số 29 (11-10-1936), được nhà xuất bản Đời Nay in thành sách năm 1941. Nhà Phượng Giang tái bản ở Sài Gòn năm 1958. Bản in trên Ngày Nay số 20, Nguyễn Gia Trí vẽ cảnh Leung-Fat-Fa đang đứng bán hàng.

Việc Nhất Linh cho in lại tác phẩm thứ yếu này của Khái Hưng, dường như ngoài ý ghi ơn ân nhân Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên, người đã thầm kín giúp vốn để cải tổ Phong Hóa, còn muốn tưởng niệm Khái Hưng, vinh danh Nguyễn Gia Trí và nhớ lại những ngày vui thành lập Tự Lực văn đoàn thủa trước.

Những ngày vui khi đăng trên báo Ngày Nay năm 1936, do Nguyễn Gia Trí minh họa. Bản Phượng Giang sửa vài chỗ, nhưng việc sửa chữa này có từ năm 1941, trên bản Đời Nay hay là Nhất Linh sửa năm 1958? Nhưng những chỗ sửa không quan trọng mấy. Tóm lại, Những ngày vui đã được ba nhân vật chính: Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh viết, minh họa in lại, có thể với mục đích để lại dấu vết việc "khai sinh" Tự Lực văn đoàn cho đời sau.

Sunday, November 22, 2020

1844. NGUYỄN TƯỜNG GIANG Những ngày lạnh rớt

Vàng chanh - Oil on canvas, dinhcuong, 7.2015

I.

      Mấy hôm nay thời tiết thay đổi đột ngột. Chiều nào cũng có những cơn mưa lớn. Mưa rỉ rả suốt ngày. Trời buồn bã một cách nóng nẩy. Đôi khi có hé một chút nắng của mặt trời, nhưng cái ánh sáng thiêu đốt hàng năm đó mấy bữa nay chưa đủ làm khô áo và tóc của một người lười biếng , ra đường không bao giờ mang áo mưa. Trong các quán cà phê nhỏ bốc khói, các hàng ăn nóng hổi, người ta ngồi với nhau yên lặng, đông đúc hơn và ấm cúng hơn. Mưa làm mọi người gần nhau, nhưng còn có yêu nhau và tử tế với nhau không, hẳn chỉ có những hạt đường đã hòa tan trong chất nước sánh và đen kia hay đôi trái ớt hiểm trộn cùng các loài gia vị khác mới thấu hiểu được lòng dạ con người. Ở một vài con đường vốn thường nhật đã vắng vẻ, những cặp tình nhân yêu nhau theo lối cổ điển, còn che chung dưới một tấm áo mưa. Một tấm áo mưa dưới thời này cũng không phải là dễ mua. Những người trẻ tuổi đúng nghĩa bây giờ, hẳn đang hưởng cái ấm áp của da thịt trong một rạp chiếu bóng có máy lạnh (người ta mở cửa suốt ngày) hay trong một căn phòng xinh xắn mấy người bạn thuê chung. Họ yêu nhau không vội vã vì trời cứ mưa hoài. Có về nhà chậm hơn một chút, có đến sở trễ hơn mọi ngày cũng không ai tò mò, thắc mắc làm gì khi thời tiết dịu dàng và sũng ướt đến thế. Riêng ở các quán nước sang trọng trên phố, số người trung lưu vẫn ngồi nhâm nhi đời sống bằng những ngụm cà phê pha hàng lít, trong suốt như trà đã phải đổ nước sôi đến lần thứ hai, từ mấy tháng nay thường rất vắng vẻ, hẳn vì ngồi uống cà phê mà cứ như uống nước mắt của đàn con thiếu sữa hay nước mắt của người vợ còn quá trẻ mỗi tháng cầm số tiền lương nhỏ nhoi chỉ đủ ăn quà buổi sáng, bỗng nhiên cũng đông thêm. Những điếu thuốc được hút dè dặt mọi ngày giờ đây cũng cháy nhanh hơn để thả những làn khói làm đậm đà cho câu chuyện. Tình hình chính trị yên lặng đến độ người ta cảm thấy và chờ đợi một trái pháo ngầm. Mỗi ngày những người ở đây lại châm lửa bằng miệng vào những ngòi tưởng tượng, nhưng trái pháo cũng chưa bao giờ nổ bằng câu chuyện nổ như bắp rang trong một ngày mưa tầm tã. Mọi người đều chờ đợi như người ta sống chỉ để đợi chờ. Câu chuyện rồi cũng phải xoay tới cái lý do khiến người ta không hẹn mà gặp rất tình cờ. Hình như trời mưa như những trận mưa giông kia là ảnh hưởng của một cơn bão lớn. Ở Sài-gòn có bao giờ mưa suốt ngày và gió lại mang cả hơi lạnh thấm đến tận xương của những người chỉ quen phong phanh chiếc áo mỏng, chỉ chờ dịp thuận tiện là cởi ra cho mát đâu. Trên hàng đầu các nhật báo, cả những bài bình luận đanh thép của đài phát thanh chẳng nói đến trận báo khủng khiếp đó là gì. Cơn bão đó may thay lại xẩy ra ở mãi tận miền Bắc, ở một xứ mà trẻ em phải tìm tòi trong các tấm bản đồ. Cơn bão đã làm nước sông dâng lên ào ạt, và các bờ đê bằng đất cũng cảm thấy cái thú phiêu lưu của loài nước kia quyến rũ nên cũng vội đi theo. Các nhánh lúa non đang tuổi lớn, các mầm thảo mộc mới nhú chút lộc xanh, cố ngoi đầu lên mặt nước để thở chút khí trời thì lại bị luồng gió như luồng gió sau một động cơ phản lực dập vùi chẳng chút tiếc thương. Người ta tiên đoán đến một nạn đói khủng khiếp như nạn đói đã xẩy ra vừa đúng hai mươi tám năm, cũng trên cái phần đất điêu linh vì tạo hoá ấy. Một vài tờ báo đã đăng lại hồi ký của những người may mắn sống sót trong cái tai họa ghê gớm lần trước, tưởng như được sống thêm một cuộc đời. Đói và rét. Hai tiếng ngắn gọn đó thường làm rung động lương tâm nhân loại, không biết có rung động trái tim của những kẻ vô tình.

II.

      Có những nỗi buồn đến rất tình cờ, không báo trước. Đang ngồi nói chuyện với mấy người bạn thân, nhấp một ngụm cà phê còn giữ đầy hơi nóng, bỗng cảm thấy cái chất nước sánh đen kia thấm vào lưỡi, dịu dàng và buồn bã biết bao. Một người bạn nào, sau khi hút một hơi thuốc dài, những ngón tay đặt trên đầu gối hơi rung rung, đọc một câu thơ ở đâu đó bất chợt nhớ được, rồi lại im lặng nuốt những làn khói mỏng và đục như vẩn mây vào tận trong phổi. Lồng ngực bỗng ran lên một hơi ấm rất nhẹ và êm, tưởng chừng những câu thơ đó đã biến thành máu chạy loang vào cơ thể. Những nỗi buồn ấy tràn ngập tâm hồn chúng ta, không hẹn hò, như một người tình nhân đến tình cờ vào một ngày trời mưa, rất mưa. Những buổi sáng sau một đêm mưa bao giờ cũng dịu dàng như lụa, mỏng manh như mối tình đầu và tinh khiết như những giọt sương còn đọng trên đọt lá non. Trận mưa đêm hôm trước, e ấp như một cô trinh nữ tắm dưới trăng, đã mang đi bao nhiêu hạt bụi của nhân gian, ướp lạnh cả thành phố còn say ngủ. Khi tia nắng trong suốt như pha lê bắt đầu len vào kẽ hở, đánh thức những kẻ còn đang đắm chìm trong giấc mơ quá đẹp, buổi sáng bỗng trở nên tươi mát hơn. Ở thành phố bây giờ vắng hẳn tiếng chim líu lo buổi sáng, nhưng ai cấm đâu một con chim lạc đàn đang chiêm chiếp trên mái ngói đỏ tươi, không biết là tiếng kêu thương hay lời mời gọi.. Chúng ta bỗng thấy buồn. Nỗi buồn rất vô cớ như có sẵn trong chúng ta, trong khí trời dịu mát, trên đầu ngọn lá non, trên nụ cười của đứa trẻ muốn thức giấc nhưng hơi lạnh còn giữ lại trong giấc mơ. Người chúng ta bỗng nhẹ vơi đi, hơi lâng lâng say, muốn nhắp thêm một chút rượu rất nồng để đi sâu vào cái mênh mông trước mặt. Chúng ta có còn nhớ gì đâu, cơn giận dữ với người bạn thân ngày hôm trước, những ganh ghét nhỏ nhoi của đời sống hàng ngày, nỗi lo âu đọng thành nước trên mắt người vợ hiền đều tan biến đi. Thế giới trở thành mộng ảo. Người ta cảm thấy mọi vật đều đáng yêu và người ta bỗng dưng cảm thấy nỗi buồn. Một buổi chiều nào ngồi đọc lại những trang tùy bút của Nguyễn Tuân, tôi cũng cảm thấy một nỗi buồn rất lạ.

III.

      Tôi nằm một mình trên gác, ngó ra những cành anh đào đầy lá non. Cả căn nhà rộng rất yên lặng, người lớn đều đến sở làm và trẻ con, đứa nhỏ nhất cũng đến trường học từ sáng sớm. Quần áo vất vương vãi trên giường, treo xô lệch trên thành ghế dựa. Tôi thấy căn phòng như lạ hẳn, không phải là nơi tôi đã ở mười năm qua. Tôi như từ đâu lạc đến. Trời trong và mát, gió nhẹ lùa làm lay động tấm màn cửa. Những ánh nắng nhẹ quá chỉ đủ làm sợi vải trong hơn, mầu vàng như tơ nõn. Tôi nhớ đến những guồng tơ của một ngày thơ ấu, chạy loạn qua một xứ tầm tơ. Những cái kén vàng óng ả, sợi mỏng như những sợi tóc mây, tôi ngồi nghe tiếng quay tơ êm ả như buổi chiều và hương thơm của những sợi tơ mới kéo như hương thơm của một mùa dĩ vãng. Ấy là lúc người thi sĩ làm thơ. Những câu thơ của người thi sĩ họ Lưu bay đầy trong phòng, êm nhẹ và dịu dàng biết bao, như thấm vào hồn những hương vô tận, những khói sầu khôn nguôi. Năm năm tiếng lụa xe đều, những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây. Năm năm ấy hay năm ngàn năm ấy, có phải chỉ có tiếng lụa xe đều trên một guồng tơ cũ hay cái không gian và thời gian muôn thuở của thơ được dệt lên bởi những tấm lòng tri kỷ. Đọc để hiểu và cảm được nỗi lòng của người thi sĩ quả đã là một người tri kỷ. Nhưng hỡi ơi, thời này mấy ai muốn làm tri kỷ của những nhà thơ không quen biết.

      Người bạn tôi đã từng nói : cớ sao có những câu thơ người ta đọc được suốt đời và mãi mãi. Có câu thơ chỉ là một hương pháo nổ mỗi mùa lễ tết. Hương thơ kia chỉ có được khi nó không còn nằm trong cái thân xác thơ, không nằm trong những chữ này chữ nọ, thời trước thời sau, nó bay lên và vượt vào không gian vô tận. Người đời nay, người ngàn đời sau một giây phút nào đó, khi thời gian ngưng lại, bắt được cái làn sóng cảm xúc kia, những âm ba êm đềm, sao lại không ngậm ngùi đôi chút, lặng lẽ thả hồn mình vào một nỗi sầu chung.

      Để hiểu một bài thơ trước tiên phải là thi sĩ. Ôi cái lập luận đanh thép đó vô duyên và trơ trẽn làm sao. Người ta không phải cứ làm thơ là trở thành thi sĩ. Có người suốt đời không làm một câu thơ nào cũng có thể là thi sĩ biết bao. Phải chọn giữa một người làm thơ không có tâm hồn thi sĩ và một thi sĩ nhưng không bao giờ làm thơ, tôi xin gửi tới những người không làm thơ bao giờ đoá hoa hồng của một mùa đẹp nhất.

IV.

      Đêm dịu dàng và yên lặng. Mưa rất nhẹ ở ngoài trời. Tôi nằm trong bóng tối trong suốt như tan vào một khối mênh mông. Ly cà phê quá đặc buổi chiều làm tôi không ngủ được. Tôi cứ nằm im như thế, lắng nghe tiếng nói của đêm thâu. Đêm đẹp xiết bao. Đêm là bình minh của tâm hồn. Nỗi lo âu về sinh kế, công việc thường ngày bỗng tan đi. Đêm là phần riêng của suy tưởng, là ánh sáng soi tỏ chỗ tận cùng của con người. Những đứa con tôi đã ngủ từ lâu, giấc ngủ êm ả của trẻ thơ. Vợ tôi sau một ngày mệt nhọc, sự mệt nhọc làm mờ nhạt những giấc mộng thiên đường thuở nhỏ, cũng không trằn trọc như mọi ngày. Đêm mát rợi. Tôi lắng tai nghe. Một điệu nhạc từ đâu, từ xa lắm vọng tới. Tôi nghe tiếng hát vang lên, lớn dần, lớn dần rồi như bay lượn ở quanh tôi. Cớ sao tiếng hát nghe quen đến thế, tiếng hát vang vọng trong tôi như một lời mời gọi. Tôi thấy lại những ngày qua. Ngày ấy tôi còn trẻ lắm và Lan mới chỉ là một cô học trò mười sáu tuổi. Đừng ai hỏi tại sao chúng tôi yêu nhau, không ai yêu nhau mà trả lời được câu hỏi ngây ngô ấy. Tôi đưa nàng đi học mỗi sớm mai, những ngày tựu trường bắt đầu vào mùa mưa tháng chín và trên đường đi xanh mướt những lá cây. Tôi đón nàng mỗi buổi trưa, tìm con đường xa nhất để về nhà và mong con đường không bao giờ hết. Chúng tôi ngồi suốt buổi chiều trong quán nước, nói những câu chuyện vu vơ và nghe những tiếng hát êm đềm. Đêm nay tôi nghe lại những lời tình ca ấy. Phải rồi, những lời ca mong manh đó đã mang cả dĩ vãng trong tôi, làm rung đến sợi tơ cuối cùng trong trí nhớ. Tôi chợt hiểu rằng người ta không nghe một tiếng hát mà người ta nghe lại cả một quá khứ chập chùng. Buổi chiều hôm nay chúng tôi đã không vui vẻ với nhau, như tất cả buổi chiều khác của những năm tháng gần đây. Những nỗi khó khăn và nhục nhằn của đời sống, tôi tưởng như một cái gông bám chặt trên vai, làm tôi giận lây đến những người thân thiết. Tôi đã làm chẩy bao nhiêu nước mắt của vợ con vì những cơn tức giận, tưởng như những giọt nước mắt ấy còn nhiều hơn cả những giọt mồ hôi tôi phải đổ ra suốt cuộc đời còn lại. Những câu hỏi dằn vặt tôi thường ngày : cớ sao mọi người đều cam sống một đời khổ sở và người ta, giầu hay nghèo, sang hay hèn chăng nữa, sống để chờ đợi một cái gì, tôi bỗng thấy chỉ là một câu hỏi không cần phải trả lời. Những thực phẩm vật chất chỉ nuôi sống một thân xác thô sơ kia hẳn không phải là ý nghĩa đích thực của đời sống, chúng có thể duy trì những cơ thể không sai một đường nét tinh vi. Đời sống đối với tôi đêm nay có xa xôi gì đâu, nó chỉ là tiếng hát cho một tâm hồn yên lặng. Tôi thấy yêu thương bao nhiêu người vợ mà tôi đã đôi lần muốn xa cách, những đứa con mà có khi tôi chỉ cảm thấy trách nhiệm nặng nề và sợ hãi. Hãy sống ngày hôm nay như một ngày đã trong dĩ vãng, đời sống sẽ trở thành hương thơm của những đoá hoa đầu mùa. Tôi nhẹ nắm tay Lan. Ngày mai tôi sẽ đưa nàng đi qua con đường chúng tôi đã bao lần qua lại, con đường có hương thơm của những đoá ngọc lan. Tôi nhắm mắt âm thầm không hay mình đã khóc. 

Đã đăng trong Tập San Văn Chuơng, số Mái Đông

Tháng 12, 1973.

NGUYỄN TƯỜNG GIANG


Saturday, November 21, 2020

1843. Phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng - Nhà báo Phạm Trần thực hiện



Tổng thống đắc cử Joe Biden của đảng Dân chủ sẽ nhận chức vào ngày 20/01/2021. Ông Biden cho biết sẽ đưa ra chính sách chống dịch bênh Covid-19, ngay trong ngày đầu nhận nhiệm vụ. Ngoài ra chính quyền Biden cũng phải đối phó với tình hình kinh tế sa sút và nạn thất nghiệp lên cao trên toàn Thế giới do Covid 19 gây ra.

Trong lĩnh vực ngoại giao, các Nhà nghiên cứu tin rằng ông Joe Biden sẽ đổi mới toàn diện chính sách quan hệ với Đồng minh, nhưng đồng thời cũng cảnh giác cao độ với các nước đối thủ của nước Mỹ. Giới quan sát cũng tin rằng chính sách ngoại giao và mậu dịch tương lai của Chính quyền Biden sẽ có những điều kiện khắt khe hơn về dân chủ và nhân quyền đối với các đối tác.

Để giúp khai sáng viễn ảnh của chính sách Ngoại giao trong 4 năm tới của Chính quyền Biden, đồng thời nhìn lại những thành công và thất bại của Tổng thống Cộng hòa mãn nhiệm Donald Trump trong lĩnh vực này, chúng tôi đã phỏng vấn Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, một Học giả chuyên ngành Chính trị Quốc tế. Ông là Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus) đã từng giảng dạy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn.


Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Ishak Institute, Tân Gia Ba.


Các bài nghiên cứu của ông, phần lớn về Á Châu và Đông Nam Á được đăng trên các Tạp chí chuyên môn (professional journals) như World Affairs, Asian Survey, Pacific Affairs, Global Asia, The Diplomat, Asia Pacific Bulletin và CogitAsia.

 

Tổng thống đắc cử Joe Biden của đảng Dân chủ sẽ nhận chức vào ngày 20/01/2021. Ông Biden cho biết sẽ đưa ra chính sách chống dịch bênh Covid-19, ngay trong ngày đầu nhận nhiệm vụ. Ngoài ra chính quyền Biden cũng phải đối phó với tình hình kinh tế sa sút và nạn thất nghiệp lên cao trên toàn Thế giới do Covid 19 gây ra.

 

Trong lĩnh vực ngoại giao, các Nhà nghiên cứu tin rằng ông Joe Biden sẽ đổi mới toàn diện chính sách quan hệ với Đồng minh, nhưng đồng thời cũng cảnh giác cao độ với các nước đối thủ của nước Mỹ. Giới quan sát cũng tin rằng chính sách ngoại giao và mậu dịch tương lai của Chính quyền Biden sẽ có những điều kiện khắt khe hơn về dân chủ và nhân quyền đối với các đối tác.

 

Để giúp khai sáng viễn ảnh của chính sách Ngoại giao trong 4 năm tới của Chính quyền Biden, đồng thời nhìn lại những thành công và thất bại của Tổng thống Cộng hòa mãn nhiệm Donald Trump trong lĩnh vực này, chúng tôi đã phỏng vấn Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, một Học giả chuyên ngành Chính trị Quốc tế. Ông là Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus) đã từng giảng dạy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn.


Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Ishak Institute, Tân Gia Ba.


Các bài nghiên cứu của ông, phần lớn về Á Châu và Đông Nam Á được đăng trên các Tạp chí chuyên môn (professional journals) như World Affairs, Asian Survey, Pacific Affairs, Global Asia, The Diplomat, Asia Pacific Bulletin và CogitAsia.


Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng

Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn của chúng tôi:

 

JOE BIDEN - DONALD TRUMP

(H): Thưa Giáo sư, Tổng thống đắc cử Joe Biden của đảng Dân chủ sẽ nhận chức vào ngày 20/01/2021, và tôi tin rằng ông sẽ đưa ra một Chính sách ngoại giao mới đối với cả bạn lẫn thù để đánh dấu nhiệm kỳ Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dậy về Khoa Chính trị Quốc tế tại Đại học George Mason, xin ông cho biết Thế giới đang chờ đợi gì ở Chính quyền Biden ?


NMH: “Nói chung, các đồng minh và đối tác của Mỹ chờ đợi hai điều chính. Thư nhất, phục hồi quá trình hợp tác và tin tưởng lẫn nhau giữa các đồng minh đã bị chính quyền Trump phá. Thư hai, một chính sách ngoại giao nhất quán, không có tính cách bốc đồng và bắt nạt. Ba đồng minh nặng ký của Mỹ --Pháp, Anh, Đức—đều tỏ vẻ vui mừng và là những nươc đầu tiên gửi lời mừng ông Biden đắc cử chức vụ Tổng Thống. Cụ thể, họ muốn Mỹ bò đường lối hành động đơn phương, gia nhập lại Hiệp định Khí hậu Paris để cùng nhau chặn đứng sự tàn phá môi sinh, hâm nóng địa cầu; trở lại Tổ chức Y tế Quốc tế để cùng nhau giải quyết nạn dịch Covit-19 đã giết chêt 1.2 triệu người trên thế giới và gây nhiều khó khăn kinh tế; gia nhập lại thỏa thuận về Kế hoạch Hành động chung (Joint Comprehensive Plan of Action) để hạn chế khả năng chế tao vũ khi nguyên tư của Iran; và môt chính sách nhất quán đối với sự bành trương của Trung Quốc."

 

(H): Sau 4 năm cầm quyền của Chính quyền Cộng hòa Donald Trump, Giáo sư đánh giá về Chính sách Ngoại giao của ông Trump như thế nào, đặc biệt với hai nước đối phương Nga và Trung Quốc trên ba lĩnh vực cốt yếu: Chính trị, Kinh tế và Quốc phòng ? 

 

NMH: “Thành quả thì có mà thất bại cũng không phải là ít. Về thành quả, chính quyền Trump đã: 1) Làm áp lực khiến đồng minh phải đóng góp thêm vào nỗ lực chung bằng cách tăng ngân sách quốc phòng; 2) Triệt hạ Nhà nước Hồi giáo; 3) Làm môi giới để một số quốc gia Á Rập ký hiệp ươc với Do Thái, giảm rủi do chiến tranh DoThái--Á Rập và tăng cường an ninh cho Do Thái, tuy không đếm xỉa đến sự công bình cho dân tộc Palestine; 4) Áp dụng chinh sách cứng rắn về quan hệ thương mại vơi Trung Quốc gây khó khăn kinh tế cho nước này; 5) Xây dựng hợp tác 4 nươc (the Quad) Mỹ, Ấn, Nhật, Úc để cùng đối phó với Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.

 

Về thất bại, chính quyền Trump đã: 1) Gây căng thẳng và làm suy yếu các liên minh chính và làm suy yếu ngay cả quyên lực cứng của Mỹ; 2) Làm suy giảm quyền lực mềm của Mỹ vì thế giơi bớt tin vào khả năng lãnh đạo và giá trị của Mỹ (cuộc khảo sát gần đây cùa Pew Research Center cho biết 83% người trong nhiều quốc gia trên thê giới được phỏng vấn nói rằng họ “không tin” Tổng Thống Trump “có khả năng hành xử đúng về các vấn đề quốc tế,” dươi cả Chủ Tịch Tập Cận Bình (78%) và Tổng Thống Putin (73%); 3) Các cố găng thay đổi chế độ (regime change) đã thất bại ở Iran, Bắc Triều Tiên, và Venezuela; 4) “Áp lực tôi đa” (maximum pressure) chưa có kết quả đôi vói Trung Quốc và thất bại ơ Iran (khả năng sản xuât vũ khí nguyên tư của Iran tăng, chính sách cấm vân không ngăn đươc Iran xuất cảng dầu hỏa và không đươc các đồng minh tôn trọng); 5) Chính sách “Mỹ trên hết” khiến “Mỹ bị cô lập;” 6) Không ngăn chặn được sự bành trương ảnh hương của Trung Quốc ở Biển Đông và bất lực trước vi phạm hiệp uoc quốc tế và nhân quyền của Trung Quốc ở Hồng Kong và Tân Cương.”

 

CUỘC CHIẾN MẬU DỊCH


(H): Theo quan điểm của ông thì Tổng thống mãn nhiệm Donald Trump có thành công trong cuộc chiến mậu dịch với Trung Quốc không, bởi vì Tổng thống đắc cử Joe Biden đã phê bình rằng chính sách đối đầu với Trung Quốc của ông Trump chỉ mang lại thiệt thòi cho nhà nông, các nhà sản xuất và giới tiêu thụ của Mỹ. Tại sao? 

 

NMH: “ Lúc đầu, chính quyền Trump không hề có ý định gây chiến tranh mậu dich vơi Trung Quốc mà muôn ký một thương ươc “lịch sử” đặt quan hệ kinh tế-thương mai song phương trên căn bản công bằng và lưỡng lợi, buộc Trung Quốc phải cải tổ cơ cấu (structural reform), không đươc “ăn cắp công nghệ” của Mỹ. Vì những mục tiêu này không đạt được nên mới xẩy ra chế tài và thương chiến. Cuôc chiên này làm thiệt hai cho cả hai nước, Trung Quốc mất một mảng lớn thị trương của Mỹ và tổng sản lượng nôi bộ (GDP) đã bị giảm. Ngươc lại, Mỹ ước tính bị mất đi 300.000 công ăn việc làm, tổng sản lượng quốc nội giảm 0.3%, nông dân Mỹ bị mất một thị trương lớn trị giá 24 tỷ Mỹ kim, giơi tiêu thụ Mỹ mất môt nguồn cung cấp hàng hóa rẻ tiền. Riêng đối với Mỹ, nhâp siêu từ TQ có giảm đôi chút nhưng nhập siêu các nươc khác lại tăng, làm trầm trọng thêm thâm thủng trong cán cân thương mại tổng quát của Mỹ. Ông Biden cho rằng cuộc chiến tranh thuế suất là một “sai lầm.”


Thêm vào đó, nạn dịch Covid-19 làm cho hai nươc bị lúng túng, nhưng Trung Quốc giải quyêt vấn đề có hiệu quả hơn, đẩy Mỹ lùi lại đằng sau.”


(H): Thưa Giáo sư, giới học giả và chuyên gia ngoại giao và an ninh Mỹ đã chỉ trích ông Trump, trong 4 năm cầm quyền, đã làm mất lòng nhiều nước Đồng minh lâu đời của Mỹ ở Châu Âu và Á Châu, nhưng lại có những quan hệ thân thiện với Nga, đặc biệt với Tổng thống Vladimir Putin; Chủ tịch, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình và Nhà độc tài Kim Chính Ân (Kim Jong-un) của Bắc Hàn, nhưng lai không đem lại thắng lợi nào cho Hoa Kỳ về các lĩnh vực kinh tế và giải trừ vũ khí nguyên tử. Ông có đồng ý như thế không? 

 

NMH: “Đồng ý. Mỹ hoàn toàn thất bại trong cố gắng giải trừ vũ khi nguyên tư của Iran và Bắc Hàn. Riêng cách đối xử của ông Trump đối vơi Nga và ông Putin (Trump tin ông Putin hơn các chuyên viên an ninh tình báo của Mỹ) đặt ra rất nhiều nghi vấn. Chinh sách đối vơi Băc Hàn là một thất bại vì phương thức điều đình (deal making) của Trump trươc thì dọa nạt sau thì tâng bốc không có ảnh hưởng gì vơi các lãnh tụ độc tài vốn được dân sùng bài, như Kim Chính Ân. Điều này cho thấy Trump chỉ dọa kẻ yếu và càn mình, nhưng lại lùi bươc trươc kẻ mạnh và không sơ mình.”

 

(H): Chính quyền Trump có dành được chiến thắng ngoại giao nào ở Trung Đông, Âu Châu và ở chiến trường Afganistan, sau khi triệt thoái hàng loạt quân đội Mỹ khỏi các vùng chiến lược này, hay Donald Trump đã mở cửa cho Nga và Iran mở rộng ảnh hưởng tại các nước Mỹ bỏ trống?


NMH: “Thắng lơi lơn nhât ơ Trung Đông là “quốc gia Hôi giáo” bị triệt hạ và môt số nhân vật cầm đầu chủ mưu các cuộc tấn công khủng bố bị giết. Mỹ không có khả năng can dư vào những cuộc chiến tranh không lối thoát (endless wars) nên phải rút. Khi rút thì tạo ra khoảng trông, những thế lực khác sẽ điền thế vào.”

 

MỸ - CHÂU Á

 

(H): Thưa ông, quay sang Á Châu, ông có thấy một tia hy vọng nào đã ló dạng trong nỗ lực thành lập khối 4 nước, dưới thời Donald Trump, do Hoa Kỳ lãnh đạo, gồm Ấn Độ, Úc Đại Lợi và Nhật Bản, để dối phó với kế hoạch bành trướng ảnh hưởng ở Á Châu-Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương của Trung Quốc không ? 

 

NMH: “Điều quan trọng là đã lập đươc môt cái khung để lôi cuốn hai nước lơn là Nhật và Ân tham dự vào viêc đối đầu với Trung Quốc. Những cuôc thao diễn quân sư chung của bốn nươc để bảo vệ an ninh khu vưc và “ngăn chặn những kẻ đe dọa môt khu vưc Ấn Độ Thái Bình Dương tư do và rộng mở” buộc Trung Quốc phải quan tâm và dè dặt. Nhưng ngươc lại, việc Mỹ rút khỏi Hiệp định Đôi tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo cơ hội cho Trung Quốc củng cố vai trò lãnh đạo kinh tê và chính trị của minh trong khu vưc qua Hiệp định Đối tác Kinh tế Khu vưc Toàn diện (Regional Comprehensive Economic Partnership) và sáng kiến “Môt vành đai, môt con đường” (One belt, One road Initiative). Lối hành đông đơn phương, bất nhất và bắt nạt đồng minh của chính quyền Trump đã gây nghi kỵ,làm mất niềm tin về khả năng và cam kết cũa Mỹ, do đó khiến thế đứng của Mỹ ở khu vực này suy yếu hơn.”

 

(H): Dưới chính quyền mới Joe Biden, ông có dự đoán nào về chính sách của Mỹ ở Biển Đông, trước chủ trương không từ bỏ tham vọng dành quyền kiểm soát vùng biển chiến lược này của Trung Quốc? 

 

NMH: “Điều chắc chằn là dưới thời Biden, chính sách Mỹ sẽ có tinh cách nhất quán hơn, không o ép đồng minh và tìm cách xây dựng lại lòng tin đã mất. Quan tâm trươc mắt của Biden là đối phó với nạn dịch Covid-19, phục hồi nền kinh tế Mỹ, và ôn định tình hình nội bộ nên khó có thể coi Biển Đông là ưu tiên số 1. Nói chung, chính quyền mới sẽ bỏ cách hành đông đơn phương thiên về hợp tác đa phương. Ở Mỹ đã có đồng thuân lưỡng đảng rằng chính sách hòa hoãn, nhân nhương để Trung Quôc trở nên môt thành viên có trách nhiêm (responsible stakeholder) trong công đông thế giơi đã thất bại, vì thê cần phải cương quyết hơn đôi vói Trung Quốc. Chính quyền Biden sẽ tiếp tục chính sách này. Khác với Trump luôn coi Tập là “ngươi bạn tốt của tôi” và làm ngơ trươc những vi phạm nhân quyền của Trung Quốc, Biden, khi tranh cử, đã từng gọi Xi Jinping là “côn đồ”(thug) và cam kêt sẽ phục hồi vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trong viêc cổ võ những giá trị nhân quyền và dân chủ, nhưng đồng thời cũng coi thương chiến vơi Trung Quôc qua biện pháp tăng thuế suất là một điều sai lầm. Có thể nói là quan hệ Mỹ-Trung trong thời gian tơi sẽ đặt trên căn bản quyền lợi quôc gia hơn là quan hệ cá nhân và sẽ pha trộn giữa đấu tranh và công tác, nhưng thiên về đấu tranh nhiều hơn. 

 

Riêng đôi vơi khu vực Biển Đông, chinh quyền Biden sẽ tìm cách trở lai Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương cũ (TPP) bằng cách gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Transpacific Partnership--CPTPP), sẽ tiếp tục các tác vụ tuần tra bảo về tư do lưu thông hàng hải (FONOP) và các cuộc thao diễn chung, giúp tăng cường khả năng quân sự của các đồng minh và đối tác trong khu vực, tiêp tục củng cố hợp tác bốn nuớc (QUAD) đồng thời tiếp nhận tham dự viên mới qua hình thức QUAD cộng (QUAD +). Điều quan trong là, với chính quyền Biden, các nước nhỏ sẽ bớt sợ bị Mỹ bỏ rơi vì quyền lơi kinh tế của Mỹ ở Trung Quốc và đồng thuận Xi-Trump về mối “quan hệ nươc lớn kiểu mời” (new type of great power relations). Một chỉ dấu đáng lưu ý khác cho thấy chinh quyền Biden có thể dứt khoát hơn trong cam kết bảo vệ đồng minh chống hành động lấn lươt của Trung Quốc là, trong cuộc nói chuyên điện thoại vơi Thủ Tương Nhật Yoshihide Suga hôm 12 tháng 11 vừa qua, Tổng Thông tân cử Biden đã mạnh dạn xác nhận rằng hiệp ươc phòng thủ chung Mỹ-Nhật áp dụng với quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) và đoan quyết Mỹ sẽ bảo vệ Nhật trong tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc về các đảo này.”

 

Thành thật cảm ơn Giáo sư. 

 

Phạm Trần

(11/020)

1842. WHO IS MONA LISA? DW DOCUMENTARY



Leonardo da Vinci's "Mona Lisa" is probably the world’s most famous painting. But whose portrait actually is it? There are two clues to the identity of the mysterious young woman, but they are mutually exclusive. Can the riddle ever be solved? Every year, millions of visitors view the portrait exhibited in the legendary Louvre in Paris. But what makes the "Mona Lisa" so special? Who is hidden behind this smiling and yet sad face? Who was Leonardo's model? Or is she even the imaginary image of an ideal beauty? Experts have been wrestling with this question for centuries. There seems to be evidence for two explanations. Both variants have been handed down in writing, but they are not compatible. The most recognized theory goes back to the biographer Giorgio Vasari. According to him, the portrait is of Lisa del Giocondo, the wife of a Florentine silk merchant who had commissioned the work from Leonardo in 1503. But this is contradicted by a note of the chronicler Antonio de Beatis dating back to 1517, in which da Vinci states that he produced the painting at the request of Giuliano de' Medici. The artist said it was an imaginary representation de' Medici's mistress Pacifica Brandani, with whom de’Medici had an illegitimate son. Within the community researching Leonardo today, both theories have their supporters. Using elaborate reconstructions, original locations and scientific methodology, this documentary delves deep into the time of Leonardo da Vinci.

Bấm vào ảnh dưới đây để xem video 42 phút



1841.TUYỆT ĐỈNH HẠNH PHÚC Anne Nguyễn chuyển ngữ từ nguyên tác Bliss (1918) Tác giả: Katherine Mansfield (1888 — 1923)


Mặc dù đang ở tuổi ba mươi Bertha Young vẫn có những khoảnh khắc như bây giờ đây nàng thích chạy tung tăng thay vì đi bộ, nhảy nhót bước cao bước thấp dọc theo lề đường, chơi đánh vòng, thảy cái gì đó lên không trung rồi đón bắt lấy nó, hay đứng yên và cười khanh khách — chỉ thế thôi, chẳng vì đâu.

 

Biết làm sao được khi đang ở tuổi ba mươi, rẽ qua lối về nhà, bỗng nhiên bạn bị choáng ngợp bởi một niềm hạnh phúc — hạnh phúc tuyệt vời! — như thể bạn mới vừa nuốt một mảng nắng chiều muộn sáng rực và nó cháy bừng trong lồng ngực bạn, tỏa chiếu những tia lấp lánh khắp người, khắp từng đầu ngón tay ngón chân?

 

Ồ, có cách nào khác hơn để diễn tả cái cảm giác đó nếu không ở trong trạng thái say khướt và mê cuồng? Thời đại văn minh sao mà mông muội! Tại sao được ban cho một thân thể mà lại phải nhốt kín trong cái hộp như thể nó là một cây đàn hiếm quý?

 

“Không, ví như cây đàn cũng không hẳn,” nàng thầm nghĩ lúc nhảy từng bước lên bậc cấp và thò tay vào túi xách tìm chìa khóa — thôi lại quên nữa rồi — và khua loảng xoảng hộp thư. “Ý mình không phải vậy, bởi vì — À, cám ơn nhé, Mary” — nàng vào nhà. “Vú em đã về chưa?”

 

“Thưa cô, đã.”

 

“Và trái cây đã giao rồi chứ?”

 

“Vâng, bẩm cô. Mọi thứ xong xuôi đâu vào đấy cả rồi.”

 

“Mang trái cây lên phòng ăn, nhớ nhé? Tôi sẽ chưng mâm quả trước khi lên lầu đấy.”

 

Phòng ăn mờ tối và lạnh ngắt. Nhưng có hề gì, Bertha cởi tung áo choàng; nàng không chịu nổi cái gò bó của nó nữa, và hơi lạnh chạm vào cánh tay nàng.

 

Nhưng trong lồng ngực nàng vẫn còn bừng bừng ngời sáng — cái luồng tia lửa lấp lánh chiếu từ đó. Hầu như chới với. Nàng không dám thở kẻo chúng lại bùng lên, nhưng rồi nàng hít thở thật sâu, thật sâu. Nàng không dám nhìn vào tấm gương lạnh lẽo — song nàng đã soi gương, và nó phản chiếu một người đàn bà, rạng rỡ, mỉm cười, bờ môi run run, đôi mắt to tròn đen láy và đang lặng yên chờ đợi một điều gì… một điều gì đó linh thiêng sắp xảy đến… nàng biết nó sẽ đến… không ngờ vực gì nữa.

 

Mary bưng vào khay trái cây kèm theo chậu thủy tinh và một chiếc đĩa mầu xanh dương tuyệt đẹp, bóng loáng lạ mắt như thể mới nhúng vào sữa.

 

“Có cần bật đèn không Cô?”

 

“Thôi, chẳng cần. Tôi thấy đường mà.”

 

Nào là quýt, táo nhuộm màu dâu đỏ. Vài trái lê vàng mịn như lụa, và nho trắng phủ một lớp phấn bạc và chùm nho lớn màu tím. Nho tím nàng đã cốt chọn cho tiệp với màu thảm mới trong phòng ăn. Thế đó, nghe có vẻ hoang đường và kỳ dị sao đâu, nhưng đó chính là lý do khi nàng chọn mua. Lúc ở trong hàng trái cây nàng nhủ thầm: “Mình cần phải có quả tím để nâng thảm lên ngang tầm với mặt bàn chứ.” Quả là hợp tình hợp lý khi ấy.

 

Khi sắp xếp xong hai tháp trái cây gồm những quả tròn trĩnh mầu sắc rực rỡ, nàng đứng lùi ra xa để ngắm nhìn công trình của mình — một cảnh tượng quá lạ thường. Bởi vì bàn ăn đậm màu hầu như hoà tan vào vũng ánh sáng mờ mờ và đĩa chưng thủy tinh cùng với chậu mầu xanh dương như trôi bềnh bồng trong khoảng không. Cảnh tượng này dĩ nhiên đối với tâm tư nàng bấy giờ thật quá tráng lệ… Nàng bật cười khanh khách.

 

“Thôi chết. Mình hóa điên mất rồi.” Và nàng chụp vội chiếc xắc tay cùng áo choàng và chạy bay lên lầu vào phòng con.

 

Bà vú ngồi cạnh chiếc bàn thấp đang cho Bé B ăn sau khi tắm. Bé mặc áo nỉ màu trắng và áo len màu xanh da trời, và tóc màu thẫm mảnh như tơ chải thành một nhúm ngộ nghĩnh trên chỏm đầu. Bé ngước nhìn và khi thấy mẹ là bắt đầu giẫy nẩy.

 

“Chóng ngoan, này cưng, ăn cho hết đi nhé,” bà vú dỗ, trề trề môi ra hiệu cho Bertha biết ý là nàng đã vào thăm không đúng lúc.

 

“Bé có ngoan không, Vú?”

 

“Bé ngoan lắm suốt cả chiều nay,” Vú thì thầm. “Lúc nẫy ra chơi ngoài công viên tôi ngồi xuống ẵm bé ra khỏi xe đẩy, có con chó bự tới dụi đầu vào đầu gối tôi và bé nắm lấy tai con chó, giựt giựt. Ôi chao, phải chi cô nhìn thấy bé lúc ấy.”

 

Bertha muốn hỏi xem khi để bé nắm tai con chó lạ nhỡ có nguy hiểm gì không. Nhưng nàng không dám hỏi. Nàng đứng đó ngắm họ, hai cánh tay buông thõng, giống như một đứa trẻ con nhà nghèo trước một đứa trẻ nhà giàu với con búp bê trên tay.

 

Đứa bé ngẩng lên nhìn lần nữa, ngó sững, và rồi nhoẻn miệng cười dễ thương quá đến nỗi Bertha phải kêu lên:

 

“Ồ, Vú ơi, hãy để tôi đút cho cháu ăn nốt nhé, để Vú rảnh tay mà dọn dẹp phòng tắm.”

 

“Cô à, khi bé ăn mà đổi tay như thế không ổn đâu,” Vú nói, vẫn thầm thì. “Sẽ làm rộn bé; thế nào cũng làm rộn bé.”

 

Sao mà kỳ khôi. Tại sao có con mà lại giao nó — không phải cất giữ trong hộp như cây đàn hiếm qúy — trong vòng tay một người đàn bà khác nhỉ?

 

“Ồ, để tôi!” nàng nói.

 

Một cách vùng vằng, Vú trao bé cho nàng.

 

“Đấy đấy, đừng có làm bé rối cả lên sau bữa ăn nhé. Cô biết đó. Không thì lát nữa đây tôi phải đến khổ với bé thôi!”

 

Thật may phước! Vú rời khỏi phòng với mớ khăn tắm.

 

“Giờ thì chỉ có mẹ con mình thôi, bé cưng của mẹ,” Bertha nói, khi đứa bé ngả người về phía nàng.

 

Bé ăn nhỏ nhẹ, chìa môi chờ đút và vẫy vẫy đôi bàn tay. Có khi nó ngậm chặt chiếc muỗng không chịu nhả; và có khi Bertha vừa mới múc đầy muỗng, nó quơ tay làm thức ăn văng tung toé.