Wednesday, December 12, 2018

893. TÔI GIẢI THÍCH VÀI ĐIỀU (Thơ Pablo Neruda - Bản dịch của Thân Trọng Sơn)

Trong ảnh: nhà thơ Pablo Neruda (1904-1973)

Bạn sẽ hỏi: đâu rồi những đoá tử đinh hương
Đâu những thứ siêu hình tẩm hoa á phiện
Đâu cơn mưa liên tục đập vào chữ nghĩa
Lấp đầy chúng với khe hở và chim muông?
Này đây, tôi sẽ kể hết bạn nghe.

Tôi sống ở ngoại ô
Thủ đô Madrid, với chuông,
Với đồng hồ và cây cối.

Từ nơi đây có thể nhìn thấy
Khuôn mặt khô của vương quốc Castilla
Như một đại dương bằng da.
Nhà tôi được mệnh danh
Căn nhà hoa, vì khắp cả bốn phía
Hoa phong lữ nở rộ,
Một căn nhà xinh xắn,
Có chó và trẻ con.
Có nhớ không, Raoul?
Còn nhớ chứ, Rafael?
Federica nữa, hẳn là vẫn nhớ,
Dưới lòng đất sâu?
Có nhớ không, từ trên ban công
Nắng tháng sáu đem hoa về ngập tràn môi bạn?

Nhớ không, những người anh em của tôi?
Thuở ấy, mọi thứ đều là tiếng ồn ã,
Vị mặn của hàng hoá,
Bánh mì chất đống hổn hển thở
Những kệ hàng nơi xóm chợ Arguelles với bức tượng
Tựa bình mực khô giữa lớp cá
Dầu chảy vào những chiếc thìa
Tiếng chân bước, tiếng đập tay
Vang rền trên phố,
Những mét, những lít, đơn vị chính xác
Đo đếm kích tấc cuộc đời,
Cá tươi xếp từng lớp chồng chất,
Trên những mái nhà trong nắng lạnh,
Chiếc chong chóng gió uể oải xoay
Khoai tây ngồn ngộn trắng ngà
Cà chua lớp lớp như từng đợt sóng biển xa.

Nhưng rồi một sớm mai tất cả bùng cháy
Một sớm mai ngọn lửa cuồng
Ngoạm hết mặt đất
Tàn sát mọi sinh linh,
Từ buổi ấy lửa cháy
Từ buổi ấy súng rền
Từ buổi ấy máu rơi.
Bọn cướp với máy bay và lính dữ
Bọn cướp  với nhẫn vàng và gái đẹp
Bọn cướp với áo thụng đen vung vãi lời ban phước
Từ trời cao ập xuống giết trẻ con
Máu trẻ thơ loang đổ trên đường
Chảy thầm lặng như máu trẻ thơ.

Này lũ sài lang mà ngay cả sài lang còn khinh miệt
Loài đá mà ngay cỏ gai cắn vào cũng muốn nhổ ra
Giống rắn độc mà ngay cả rắn độc cũng kinh tởm!

Đối mặt với chúng bây ta đã thấy
Máu Tây Ban Nha trào lên như ngọn triều
Nhấn chìm chúng bây  trong cơn sóng
Của lòng tự hào và của những lưỡi dao.

Hỡi lũ tướng tá bội phản
Hãy nhìn căn nhà của ta đổ nát
Hãy nhìn đất nước Tây Ban Nha tan hoang,
Từ mỗi ngôi nhà, thép lửa sẽ ngập tràn
Thay vì hoa,
Từ mỗi ngóc ngách của quê hương
Tây Ban Nha sẽ trổi dậy
Và từ mỗi xác trẻ thơ một họng súng chĩa ra từ đôi mắt
Từ mỗi tội ác viên đạn sẽ nảy ra
Ghim vào tim bọn bây.

Bạn sẽ hỏi: sao thơ anh không nhắc tới
Những giấc mơ và những bông hoa 
Những ngọn hoả sơn hùng vĩ trên quê hương!

Hãy đến đây nhìn máu đổ trên đường
Hãy đến đây nhìn
Máu đổ trên đường,
Hãy đến đây nhìn máu đổ
Trên đường.

PABLO NERUDA
THÂN TRỌNG SƠN dịch
____________________
Pablo Neruda (1904–1973), tên thật Neftalí Ricardo Reyes Basoalto, , nhà thơ, nhà hoạt động chính trị, nhà ngoại giao, người Chi-lê. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1971. Có lẽ ông là nhà thơ quan trọng nhất của thế kỷ 20 ở Châu Mỹ La Tinh.

Tuesday, December 11, 2018

892. ĐINH CƯỜNG (1939 - 2016): hai bài thơ cho Hồ Đình Nghiêm

Rừng Scibilia mùa thu, photo by Phạm Cao Hoàng, 4 November 2018


SAU MÙA ĐÔNG
ĐI ĐÂU CŨNG THẤY SỬA ĐƯỜNG

gởi Hồ Đình Nghiêm

Chân dung Hồ Đình Nghiêm, dinhcuong, tháng 5.2012

Tháng năm nắng thắm rừng xanh lại
những ngày đi trong màu xanh lá cây
những ngày đi trong màu hoa rực nở
sau mùa đông các toán sửa lại đường

đi đâu cũng thấy đường đang sửa
toàn xe cơ giới. nhẹ. nhanh làm sao
nghĩ lại mới thấy thương mình đã gặp
một toán người sửa đường trên B’lao

những người sửa đuờng dùng tay bưng đá
đẩy xe ba gác chất đầy gạch xanh
bạc phếch áo quần. đầu che nón lá
mặt che khăn. bụi  nắng ôi chao …

lại nhớ đến nhà thơ Hữu Loan thồ đá [*]
những năm về Nga Sơn ở ẩn quê nhà
sáng đi bộ nhìn đoàn xe sửa đường tân tiến
mà thương quê mình. nghèo. sao cứ festival …

Virginia, May 8, 2014
 [*] Hữu Loan (2.4.1916 – 18.3.2010)
Nga Sơn – Thanh Hóa


BA GIỜ SÁNG
ĐỌC ĐOẠN GHI CỦA HỒ ĐÌNH NGHIÊM
TRÊN SANGTAO.ORG VÀ NGỒI GÕ…

12 giờ khuya ngủ, khoảng 3 giờ sáng dậy, thường hay bật lướt qua computer.
Đọc được đoạn ghi của Hồ Đình Nghiêm …sáng ra tôi lại đi bộ 
qua Starbucks ngồi một mình. Mùa hè cha mẹ hay dẫn thêm các con theo,
không khí nhộn nhịp hơn, đôi khi không có chỗ ngồi , bưng ly cà phê
ra ngồi ở băng ghế để bên ngoài cho người hút thuốc lá. Tôi hút thuốc lá dữ lắm
mà qua đây phải bỏ, vì tánh  hay sợ phiền, hay trời tuyết lạnh mà ra đứng
ngoài hút thì cũng …không phải. nên con gái nói thôi ba bỏ thuốc là tôi bỏ.
như vậy là hai chục năm. Tôi qua đây mới đó tính đến nay đã hai mươi bốn năm.

Có gặp Hồ Đình Nghiêm mấy lần khi qua Montreal, một thời đông vui bè bạn.
Nhớ con phố Saint Denis nơi Phạm Nhuận ở, đêm uống rượu cùng nhau. Thời nhóm Việt Thường tổ chức kỷ niệm Bùi Giáng, thời Võ Đình và cả tôi qua bày tranh, thời có Trịnh Công Sơn qua thăm gia đình…Nay hình như Luân Hoán dọn đi xa hơn, Hoàng Xuân Sơn cũng vậy…các bạn ít gặp nhau cùng Song Thao, Lưu Nguyễn … Nguyễn Đông Ngạc thì đã mất, nhớ chiếc tẩu thuốc rất ấm của Ngạc.

Nghiêm Bích và hai cháu trai nay đã tốt nghiệp đại học đã đi làm, 
Có qua Virginia thăm cũng có ghé qua Starbucks, biết đường đi sau cánh rừng Natick
Chắc không để ý nghe tiếng còi tàu hụ. tiếng còi tàu mỗi ngày ngang qua vùng Burke này
Gợi nhớ kỷ niệm. Thì cứ nhớ. cứ cũ kỹ . người ngồi cũ kỹ . Nhìn cách tân mà thích mà
ham, nhưng nếu cố gắng làm theo thì đâm ra lại… cũ kỹ .

Thì thôi mình cứ bình chân như vại, cứ thật thà như đếm mà sống. còn làm được gì thì làm với lòng thành cho vui. Vui thôi mà. Như Bùi Giáng. Đôi khi bè bạn viết qua viết lại không phải như ngưởi ta hay nói áo thụng vái nhau mà chính chiếc áo thụng đôi khi lại che được chúng ta qua một cơn mưa. Tình người và tình bè bạn ở chân trời góc biển.

Virginia, June 26, 2013

Hồ Đình Nghiêm - Lê Tấn Lộc - Lưu Nguyễn - Luân Hoán - Đinh Cường - Phạm Nhuận
Montreal - Canada, 1992

Monday, December 10, 2018

891. Thơ PHẠM CAO HOÀNG Đà Lạt và câu chuyện về khu vườn thi sĩ

Hồ Xuân Hương (Đà Lạt), photo by Phạm Cao Hoàng, tháng 9.2017

và bài thơ tôi viết đêm nay
là bài thơ sau bốn mươi năm
kể từ hôm tôi nắm tay em
chầm chậm đi qua Khu Hòa Bình
xuống con dốc Duy Tân
rẽ sang Hai Bà Trưng
và dừng lại nơi chiếc cầu Vĩnh Viễn

đêm ấy
Đà Lạt có một chút mưa bay
có tiếng hát của Lê Uyên Phương, của Phụng, của Tiên
của Nhượng, của Phong, của Triền, của Chức
em mặc chiếc áo dài màu xanh của miền đồi núi
đôi mắt hồn nhiên như một bài thơ tình

đi bên em trong đêm cao nguyên
tôi nói với em về ước mơ của chàng lãng tử
chàng lãng tử đưa em đến một khu rừng
và dừng lại bên dòng suối
nói với em rằng tôi yêu em
nói với em rằng tôi sẽ không xa em

đi bên em trong đêm cao nguyên
tôi nói với em về câu chuyện thần tiên
tôi và em đi đến một khu vườn
nơi mọi người chỉ biết yêu nhau
chỉ biết tặng nhau hoa, nụ cười và những bài thơ 
tôi gọi đó là vườn thi sĩ
em gật đầu cười rất nhẹ:
em sẽ ở cùng anh trong khu vườn đó
và bàn tay tôi vừa chạm trái tim em

PHẠM CAO HOÀNG
Virginia, 2014

Saturday, December 8, 2018

890. DU TỬ LÊ Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng



DU TỬ LÊ
Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi
mọi trào lưu thời thượng


Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới.

Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là  “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích.

Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!”

Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà, rất gần nhân thế; rất gần tình yêu con người và; đất nước của ông.

Với tôi, đó là chủ tâm đem vào thơ những địa danh họ Phạm đã sống, như đã từng chết trong chúng.

Với tôi. Đó là hình ảnh không thể thân thiết hơn với đấng sinh thành, với  người yêu (cũng là người bạn đời “Cúc Hoa”) và, với rất nhiều bằng hữu gần, xa trong đời thường của người thi sĩ, vẫn nâng niu, chữ, nghĩa, dù ở nơi chốn nào nơi xứ người…

Ở phần “Phụ Lục” cuối tuyển tập thơ mới nhất, tựa đề “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” do Thư Ấn Quán, in lần thứ ba, tại Hoa Kỳ, 2018, nhà văn Phạm Văn Nhàn, trong bài “Đất và Người,” viết: “Gần đây, đọc được bài thơ ‘Cha Tôi’ của Phạm Cao Hoàng, viết về người cha đã qua đời cách đây 40 năm, tôi vô cùng xúc động.

‘ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi
để lại đàn con trên quê hương tan tác
để lại trong trong tôi vết thương mang theo suốt đời.

bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương’
(Cha Tôi, 2015)”

Cũng từ quá khứ thơm nồng tình bằng hữu, tác giả Phạm Văn Nhàn viết tiếp: “Dạo ấy, mỗi lần ghé Tuy Hòa, tôi ở lại cùng Phạm Cao Hoàng trong căn nhà nhỏ của gia đình Hoàng. Đọc bài thơ ‘Cha Tôi,’ tôi nhớ đến ngôi nhà và hình ảnh bác trai. Bác cao, hơi gầy và da ngăm đen. Cái đen của nắng và gió, của một người nông dân thuần chất. Hiền và độ lượng. Ngôi nhà có cái chái bếp nấu ăn bằng những thanh củi. Ngôi nhà có bộ ván ngựa mà tôi và Trần Hoài Thư thường nằm ngủ…
(…)
Và khi đọc bài thơ ‘Mây Khói Quê Nhà,’ tôi muốn viết một chút về Phú Thứ, quê hương của Phạm Cao Hoàng (*)

mùi hương của đất làm con nhớ
những giọt mồ hôi những nhọc nhằm
cha đã vì con mà nhỏ xuống
cho giấc mơ đời con thêm xanh
mùi hương của đất làm con tiếc
những ngày hoa mộng thuở bình yên
nồi cá rô thơm mùi lúa mới
và tiếng cười vui của mẹ hiền”
(Mây Khói Quê Nhà, 1999)

Bài thơ làm tôi nhớ đến con đường dọc theo nương dẫn thủy nhập điền từ đập Đồng Cam về tưới tiêu cho những cánh đồng rộng lớn. Tôi đã từng đi trên con đường này. Tôi lại nhớ đến năm tháng ở trại A.30 và ngày được thả cho về trên chuyến xe lam chạy trên con đường ấy dọc theo những cánh đồng xanh màu xanh của lúa… (Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 103, 104, 105).

Về tình yêu nơi chốn, ngoài sinh quán Phú Thứ, thì, Đà Lạt là nơi được Phạm Cao Hoàng nhắc tới nhiều nhất. Tựa đó là tình yêu đầu tiên và cũng là cuối cùng của ông, bên cạnh tình yêu ông dành cho những nơi chốn khác:

…Tôi yêu Đà Lạt bởi có Cúc Hoa trong đó. Dường như ta nghe Phạm Cao Hoàng thì thầm như vậy. Ít người có được cái tình và những lời như tác giả ‘Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương’ nói với người bạn đời của mình. Cảm động nhất là những lúc gian nan, hoạn nạn. Như cách đây mấy năm khi Cúc Hoa phải vào nhà thương cấp cứu vì bị đụng xe, lúc trở về phải ngồi xe lăn:

“…em đi xe lăn mà vui
lăn đi em nhé cho vơi nỗi buồn
đưa em về phía con đường
có con sóc nhỏ vẫn thường chào em
hát em nghe bài Je t’aime
kể em nghe lại chuyện tình Cúc Hoa
em đi xe lăn về nhà
mùa xuân nhè nhẹ bước qua bậc thềm”
(Đã Qua Rồi Một Mùa Đông, 2012)
(Trích “Bạt” Nguyễn Xuân Thiệp, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 10, 11)

Như đã nói, tình yêu nơi chốn, tựa bất cứ một thứ tình cảm nào, luôn là những ngọn lửa thương yêu bập bùng trong tâm-thức-thương-tích của một Phạm Cao Hoàng, thi sĩ.

Với tôi, nó không chỉ là vết son đậm trên dung nhan thi ca họ Phạm, mà hiểu rộng ra, đó còn là tình yêu gắn bó, bất biến giữa thi sĩ và đất nước của ông:

“…đi không phải là đi biệt xứ
thương quê nhà còn lại phía sau lưng
lại cùng em lang thang bên hồ Thạch Thảo
nói với em về một đoạn đời buồn
nói với em về những dòng sông lưu lạc
trôi về đâu rồi cũng muốn trở về nguồn.”
(Trích “Chia Tay Đà Lạt,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 37)

Hoặc:
“ngồi bên nhau giọt rượu cay trong mắt
ngồi bên nhau cùng nhớ một quê nhà
quê nhà thì xa mây thì bay qua
đời phiêu bạc như những đám mây trôi giạt
nhớ Ngựa Ô là nhớ những bàn tay ấm áp
tôi thương Ngựa Ô và thương bạn bè tôi.”
(Trích “Thương Nhớ Ngựa Ô,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 52)

Hoặc nữa:
“…bây giờ bốn mươi năm sau
tôi về, mây trắng trên đầu bay ngang
vẫn cùng em đi lang thang
vẫn yêu em đến vô vàn, biết không?
vẫn yêu Đà Lạt vô cùng”
(Trích “Chiều Đi Ngang Qua Thung Lũng Fox,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 86)

Tới đây tôi xin tạm ra khỏi cõi-giới thi ca Phạm Cao Hoàng, bằng mấy câu thơ đẹp của ông, trích từ bài “Đà Lạt và Câu Chuyện về Khu Vườn Thi Sĩ”:

“em mặc chiếc áo dài màu xanh của miền đồi núi
đôi mắt hồn nhiên như một bài thơ tình
(…)
tôi gọi đó là vườn thi sĩ
em gật đầu cười rất nhẹ:
‘em sẽ ở cùng anh trong khu vườn đó’
và bàn tay tôi vừa chạm tim em.”
 

DU TỬ LÊ
Tháng 12.2018

Chú thích:
(*) Nhà thơ Phạm Cao Hoàng, nguyên quán: Phú Thứ, Tuy Hòa, Phú Yên. Hiện sống và làm việc tại Virgnia, Hoa Kỳ. Ông đã cho XB tất cả 5 tác phẩm. Hầu hết là thơ. Chỉ có một tập truyện: “Mơ Cùng Tôi Giấc Mơ Đà Lạt.”

Nguồn: Báo NGƯỜI VIỆT (California, USA), 8 tháng 12.2018


889. Thơ HỒ ĐÌNH NGHIÊM Thân không yên (Khi nghe tin nhập viện, xuất viện)

Ảnh: Google image

Tuyết vây sắc trắng màu vĩnh cửu
Không tiếng động nào thảy êm chôn
Mùa lễ nhích gần bên thềm lạnh
Lùa theo gió vấp hờn căm thêm.

Đêm ta để cửa chong đèn đợi.
Người khách xa nào sẽ đến đây?
Ta đợi vì nghe ngoài ngõ trúc,
Có con chim khách kêu chiều nay.

Chiều xưa ngồi kề vai thi sĩ
Ngươi biết chăng hai bà trùng tên
Ta Bích lớn mà ngươi nhỏ vậy
Nhớ đôi lần diện bích thân, tâm.

An lạc chừng như xa ngoài cõi
Chia tay nhau chẳng hẹn đoàn viên
Nghe im lặng mà sống,
Nhìn trời đất mà vui.
Hãy như người từng trải mỏi mê về
Lúc tàn khuya
Nhà hương hoả tối mốc.
Còn ai không, có gọi chỉ thêm buồn.

Hôm nay nghe tin người đột quỵ
Sá gì một bóng vẫn Ta Về
Cuộc phiêu lưu tinh thần bị liệt
Nùi lộ trình rối chẳng phăng ra.

Ở xa đọc thơ người như niệm
Những hằng tin cơn hạn thiếp trôi
Trời nổi gió trên đầu cây. Tạo vật thốt cười.
Trận cười ngất ngất.

Tạo vật cười như nó hằng thế
Khật khưỡng thay tiếng còi ambulance
Nhà thương nhà ghét là gạch nối
Quá đỗi gần cho anh cho em

Ta nhớ dăm ba hình ảnh cũ,
Lờ mờ như nhớ lại tiền thân.
Đời ta khi trước vui vầy thế
Bỗng thảm thương nghìn nỗi ngói tan.

Gió lờn rờn mê mỏi ru hời
Trăng cô quả bấy lâu dầu dãi.
Ngóng ra ngoài con đường mốc trắng
Rồi mai khí tượng thắp mặt trời

Ơi anh Tô Thuỳ Yên thân mến
Biết bao lần chúng ta Thắp Tạ
Đời sống cọ xát thanh kim loại
Tuần hoàn cho xiết đốm lửa vui

Cố quên lấy được một đôi điều
Không biết gọi thế nào dẫu là tạm gọi…

Hồ Đình Nghiêm
8 tháng 12.2018
Chữ nghiêng là thơ của Tô Thuỳ Yên.

Hồ Đình Nghiêm và Tô Thùy Yên