Monday, September 9, 2019

TẠM NGHỈ 2 TUẦN (10.9.2019-24.9.2019


1248. HOÀNG KIM OANH: TẢN MẠN VỚI NGUYỄN TƯỜNG GIANG, THỜI GIAN CÓ PHẢI TRONG VÔ TẬN...

HOÀNG KIM OANH
TẢN MẠN VỚI NGUYỄN TƯỜNG GIANG,
THỜI GIAN CÓ PHẢI TRONG VÔ TẬN...

Chân dung Nguyễn Tường Giang, dinhcuong, 2014


...
Giọt nước đã tan ngoài cửa sổ
và lá vàng kia cũng rụng rời
ta còn nằm mãi trong huyệt nhỏ
rồi cũng phôi pha một kiếp người

(Nguyễn Tường Giang, Khói hồ bay, tr.64)


Vâng. Đúng vậy, anh Nguyễn Tường Giang. Chúng ta rồi sẽ phôi pha...
Nhưng có lẽ thời gian sẽ mãi là vô tận với những gì Thạch Lam và Tự Lực Văn Đoàn đã để lại cho văn học Việt Nam.

Hai năm trước, tôi đã được nhận món quà bất ngờ đặc biệt anh Nguyễn Minh Nữu mang từ DC về cùng với bức thiệp thư cuối cùng của anh Đinh Cường: cuốn Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong hóa và Tự lực văn đoàn có thủ bút của con trai út nhà văn Thạch Lam ký tặng dù tôi chưa hề được biết anh. Cùng với tập văn thơ Khói hồ bay tác giả Nguyễn Tường Giang ký tặng nhà văn Nguyên Minh mà tôi được chuyển giao lại. Cũng chưa kịp và cũng không biết cảm ơn ai, ở đâu... Chỉ biết anh đang ở nơi có anh Đinh Cường vừa bỏ lại cuộc chơi…

Mãi hôm nay, cũng một chiều lập đông Sài Gòn nhạt nhòa ánh đèn như hai năm trước, anh Nguyên Minh gọi gấp mấy lần: "Em lên anh đi, có anh Nguyễn Tường Giang đến tòa soạn, muốn gặp nhóm anh em Quán Văn, chiều mai anh ấy đã bay về Mỹ rồi", tôi mới lần đầu gặp anh.

Mỹ Lệ vừa đến. Tiếp đó là cặp uyên ương Trương Văn Dân - Elena, hai bạn đã cùng anh Nguyên Minh gặp gỡ anh Nguyễn Tường Giang cũng đã hai năm trước ở nhà anh Trương Vũ với các anh Đinh Cường. Phùng Nguyễn, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Minh Nữu, Phạm Thành Châu… ở rừng phong Virginia, và đi dọc dòng sông Potomac...
Biết là biết mù mờ vậy thôi. Không ngờ hôm nay bất ngờ dun rủi sao mới có duyên diện kiến. Vậy mà tự nhiên làm sao như quen biết tự bao giờ, cuộc trò chuyện văn chương của mấy anh em hết sức cởi mở chân tình. Khi tôi bảo thích nhất đoạn Thanh trở về thăm bà và đoạn kết lãng mạn đẹp như thơ trong truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan, anh Giang sôi nổi hẳn và đồng tình rằng theo anh, đó mới là tác phẩm hay nhất của bố anh, không hẳn là Sợi tóc như nhiều nhà phê bình nhận định. Cùng đọc lại đoạn kết thuộc lòng ngày nào...
"Thanh nghĩ đến căn nhà như một nơi mát mẻ và sung sướng để chàng thường về nghỉ sau việc làm. Và Thanh biết rằng Nga sẽ vẫn đợi chàng, vẫn nhớ mong chàng như ngày trước. Mỗi mùa cô lại giắt hoàng lan trong mái tóc để tưởng nhớ mùi hương." Gia đình. Nơi chỉ để yêu thương. Ơi cái mùi hoàng lan ấy bây giờ làm sao tìm được giữa phố thị ồn ào bon chen cao ốc ngựa xe…

Tôi cũng nhớ hoài đoạn trích về tình bà cháu dịu dàng đã được dạy ở chương trình lớp Ba bậc Tiểu học mà mỗi lần đọc lại lòng tôi đều mơn man xúc động… (Ai đã làm bà rồi...có lẽ càng thấm thía hơn cái cảm nhận ấm áp trìu mến này…): "Trên trường kỷ, ngọn đèn con và cái điếu cũ kỹ. Con mèo già tròn mình nằm bên cạnh, mắt lim dim trong sự bình yên và nhàn nhã. Thanh trông thấy cảnh ấy đã nhiều lần. Lần nào trở về với bà chàng, Thanh cũng thấy bình yên và thong thả như thế. Căn nhà với thửa vườn này đối với chàng như một nơi mát mẻ và hiền lành, ở đấy bà chàng lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để mến yêu chàng." (Thạch Lam, Dưới bóng hoàng lan). Cảm động âu yếm làm sao về một nơi mà ta biết mình luôn được yêu thương mỗi khi trở về…
Không biết bây giờ qua bao nhiêu lần cải và cách, Bộ Giáo dục có còn giữ lại đoạn trích này không hay cũng bị giảm tải như đã giảm tải những bài hay nhất của văn chương Việt Nam Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), v.v…

Nguyễn Tường Giang, tên anh, tôi đã biết từ hai năm nay qua những dòng thơ hiền hòa trầm lắng đượm nỗi buồn man mác rất giống style văn tả cảnh cực kỳ ấn tượng của Thạch Lam trong Khói hồ bay. Ngay từ bé, chúng tôi đã xa xót và cảm động biết bao với những câu chuyện về lòng nhân ái của những con người nhỏ bé trong các truyện ngắn Thạch Lam: Gió lạnh đầu mùa, Nhà mẹ Lê, Hai đứa trẻ; tôi nhớ Cô hàng xén đẹp người đẹp nết, cả cuộc đời lam lũ hy sinh hết mọi niềm vui riêng tư, nuôi em, rồi lấy chồng và tàn tạ vì quán xuyến việc nhà chồng không chút thở than; tôi yêu và mơ mộng biết mấy mùi hương hoàng lan trong Dưới bóng hoàng lan… Những câu chuyện mà tôi và có lẽ không biết đã bao thế hệ người Việt từng yêu mến cảm thương cái tình người đằm thắm xúc động trìu mến khó tả trong từng dòng, từng chữ... Cũng như cho đến bây giờ, bất cứ ai từng gọi là có đọc văn chương chữ nghĩa, mỗi khi nói đến Hà Nội hẳn phải nhớ ngay đến Thạch Lam với Hà Nội băm sáu phố phường...

Thật ra, không biết có phải gien trội hay không, trong khi các người con khác của Thạch Lam và cả những hậu duệ khác của dòng họ Nguyễn Tường- Cẩm Giàng đều có thiên hướng đi về khoa học kỹ thuật, mỗi Nguyễn Tường Giang đã bước vào thế giới thơ, văn từ những năm còn là sinh viên Đại học Y Khoa Sài Gòn từ đầu thập niên 1960. Theo Du Tử Lê trong “Khói hồ bay, định mệnh khác của Nguyễn Tường Giang” (Nguồn: https://dutule.com/a4549/khoi-ho-bay-dinh-menh-khac-cua-nguyen-tuong-giang-), “Nhà văn, nhà thơ Nguyễn Tường Giang từng cộng tác với các nhóm văn hóa như Thái Độ, Đất Nước. Ông cũng là một trong những thành viên chủ trương tạp chí Văn Chương, thành lập nhà xuất bản Thạch Ngữ. Và cũng khá ngạc nhiên, cái gien trội ấy tưởng lẩn khuất trong đời thường bộn bề những dao kéo, bệnh án, bệnh nhân… của một bác sĩ sản khoa, tốt nghiệp Trường Đại học Y khoa Sài Gòn năm 1968 hẳn hoi. (Ra trường, anh làm việc tại các bệnh viện lớn Từ Dũ, Hùng Vương, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng cũng từng là bạn đồng môn của anh... Qua Mỹ, anh hành nghề tư, tham gia giảng dạy chuyên môn (sản phụ khoa) tại Southside Hospital, Bay Shore, New York rồi tại Virginia Hospital Center, tại Arlington, Virginia. Nghỉ hưu năm 2010) thế nhưng vẫn chưa bao giờ tố chất văn chương trong anh bị dập tắt… Ở hải ngoại, Nguyễn Tường Giang đi tiếp con đường chữ, nghĩa thừa hưởng từ thân phụ, qua những sáng tác đăng tải trên các tạp chí như Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21… Không phải là điều thú vị sao? Nguyễn Tường Thiết từng viết tựa cho Khói hồ bay “Xin cảm ơn Giang về đóa hồng mà Giang đã tặng cho muôn vàn những người không bao giờ làm thơ, trong đó có tôi”.

Nguyễn Tường Giang, sinh ngày 24-6-1942 tại Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, Hà Nội rồi qua bậc trung học ở trường Hồ Ngọc Cẩn và Chu Văn An ở Sài Gòn. Trong “Thạch Lam, Cha tôi trong trí tưởng", Nguyễn Tường Giang kể: "Sự ra đời của tôi, một đứa con trai, là tai họa cho ông. Một người đoán số tử vi nào đó, năm 1942, khi mẹ tôi đang mang thai, đã nói nếu sinh con trai thì người cha sẽ chết. Khi mẹ tôi đi sinh, cha tôi đang đau nặng. Ông đau bệnh gì: bệnh lao vì làm việc và suy nghĩ nhiều, ý chí muốn dứt bỏ cái thú phù dung, hay tại số. Tôi không thể định rõ được. Lúc người nhà về báo với ông đứa trẻ mới sinh là con trai, ông không nói gì, lặng lẽ coi tiếp tờ báo đang xem dở. Ba ngày sau, ngày 27-6-1942, Thạch Lam mất. Sinh ra đời, buồn thay, nhiều khi đã mang một bản án sát nhân trong hồn”. (Khói hồ bay, “Thạch Lam, Cha tôi trong trí tưởng”, tr.298). Đọc mà xót xa. Ba ngày tuổi...Thạch Lam chỉ còn là "cái bóng trong tâm tưởng". Và đứa trẻ ấy, côi cút tình cha, bước thấp bước cao trong những ly loạn của cuộc đời con trong cuộc tao loạn chung của dân tộc.

Mẹ ơi
Năm nay con 25 tuổi
cha đã mất đi từ thuở sơ sinh
cây liễu bên hồ căn nhà xưa cũ
mẹ kể cho con đã gãy một phần
con đã lớn lên những ngày ly loạn
bước thấp bước cao trên khắp ngả đường
(Căn phần, Khói hồ bay, tr.207)

Chỉ còn Mẹ là sợi dây liên lạc thân yêu duy nhất của ba chị em với Thạch Lam để Nguyễn Tường Giang biết và nhớ về người cha “chỉ cần cái phẩm hơn cái lượng. Văn chương đời sống ông tinh tế, nhẹ nhàng quá. Người yêu hoa cẩm chướng, viết văn thật sớm vào buổi sáng, dạy học thêm một tuần đôi ba giờ, đến tờ báo vào những giờ đẹp nhất trong ngày” (Khói hồ bay, tr.300), biết cha thích thơ Nguyễn Nhược Pháp, yêu văn Nguyễn Tuân, từng góp phần vào Tương biệt dạ của Huyền Kiêu… Bởi thế, tình yêu dành cho mẹ trong thơ Nguyễn Tường Giang cũng bội phần sâu nặng. Khi mẹ mất, tưởng chừng cậu con út của Thạch Lam hoàn toàn rơi vào thế giới lưu đầy cô độc.

Mẹ hiền giờ đã khuất
Ngàn dặm thân lưu đầy
Nhớ nhà đôi dòng lệ
Biết nói cùng ai đây
(Áo đỏ người phơi trước giậu thưa, Khói hồ bay, tr.57)

Song cái mà Giang thừa hưởng di truyền từ cha, có lẽ không khó nhận ra, như Nguyễn Tường Thiết (con trai út nhà văn Nhất Linh, anh em thúc bá của tác giả Khói hồ bay) đã tin, đó là "Nỗi buồn bàng bạc trong văn ông. Một nỗi buồn không nguồn cội từ trong lan tỏa ra ngoại giới (...) Hầu như tôi luôn bắt gặp trong mỗi đoạn văn ông một nỗi buồn thầm kín nó lấp ló đằng sau mọi niềm vui như chỉ rình chờ để xuất hiện vào những lúc bất ngờ nhất... Văn ông, cũng như văn Thạch Lam, Nhất Linh bàng bạc cái sợi tóc mỏng manh của hạnh phúc. Ông đã thừa hưởng mà không tự biết cái “gien” buồn nằm sẵn trong dòng máu mình, nó nằm trong ông kỹ hơn người khác vì ông có bản chất thi sĩ và vì ông là nhà thơ duy nhất của dòng họ." (Khói hồ bay, tr.291) Cùng cách nhìn, trong lời tựa phần thơ, nhà văn Phạm Phú Minh cũng nhận ra nửa thế kỷ làm thơ từ giữa thập niên thuở hai mươi đến lúc đầu bạc trắng tuổi bảy mươi của Nguyễn Tường Giang: “Nỗi buồn tồn tại như một phẩm hạnh của tâm hồn nhà thơ, nó xác nhận một cái gì bất biến nơi ông, trước những biến đổi cực kỳ lớn cho đời ông cũng như cho đất nước Việt Nam. Dù phải hoàn toàn làm lại cuộc đời nơi xứ lạ, phong tục tập quán và văn hóa cuộc sống chung quanh đều thay đổi, nhưng trong thâm tâm ông đã kết tinh một viên ngọc của yêu thương lẫn đau thương, một loại trái tim Trương Chi không bao giờ tan biến. Đó là chỗ đáng yêu và đáng phục nhất của của tâm hồn Nguyễn Tường Giang, nằm ẩn một cách sâu xa và kín đáo trong tâm sự thi ca của ông…” (Tĩnh lặng, Khói hồ bay, Khói hồ bay, tr.29-30)

Đọc Khói hồ bay, tôi cũng tin như Nguyễn Tường Thiết. Như Phạm Phú Minh.

Còn một lẽ nữa, có chút riêng tư, nhưng vừa mở trang đầu tập thơ văn bìa cứng màu khói nhạt rất đẹp và trang nhã Khói hồ bay của Nguyễn Tường Giang tôi đã bất ngờ thú vị với dòng đề tặng người trùng tên tôi. Lật, đọc thêm..., thú vị tiếp vì người trùng tên ấy cũng là nữ sinh Trưng Vương, cũng ở Thị Nghè… mà trong không ít bài của phần thơ, chàng học trò Chu Văn An ngày xưa hai mươi năm, gần một phần tư thế kỷ sau vẫn còn“để lòng ngẩn ngơ”:
 
Em còn nhớ không em
đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cũ
hai hàng me lá nhỏ
anh từng chiều đợi mong
...
Hai mươi năm gặp lại
anh không còn làm thơ
em vẫn Trưng Vương cũ
để lòng anh ngẩn ngơ...
...
(Tình xưa, 1992, Khói hồ bay, tr.75)

Ôi có lẽ không chỉ vì anh có dòng máu văn chương của hậu duệ Tự lực văn đoàn nên thành nhà thơ, mà còn có thể vì chút ngẩn ngơ thơ dại với tà áo, với con đường thơ mộng nhất nhì Sài thành thuở ấy chăng…?

Vơ vào cho vui thế thôi, trước 75, thơ anh là những khắc khoải phận người, những khát vọng tuổi trẻ và tất nhiên, rõ nét là nỗi ám ảnh chiến tranh chết chóc, bạo tàn. Một “thường dân sống ở Sài Gòn” thức dậy sau “cơn ác mộng kinh hoàng”,  một “Em bé lên sáu tuổi” cha mẹ vừa chết khi đưa em đến trường, thân thể em ghim đầy đạn đã khiến người y sĩ trẻ Nguyễn Tường Giang năm 1969 ấy bật thành thơ. Tôi bắt gặp cái nhìn nhân bản đáng quý rất gần gũi với tâm cảm một thời những con người miền Nam:

Khi viên đạn cuối cùng bay ra ngoài nòng súng
ghim vào ngực kẻ thù của chàng
bầy chim trên cành không hót
thấy một người Việt Nam
ngã xuống trong khu rừng...

(Chiến tranh, 1967, Khói hồ bay, tr.254)
Vâng. Không có bên này. Không có bên kia. Chỉ có một người Việt Nam vừa ngã xuống.

Và cái tuổi trẻ một thời đau thương khủng hoảng đọa đày ấy anh đã không dửng dưng nỗi đau dân tộc, đã không ngừng trăn trở: “Trước khi con nhắm mắt/cho tổ quốc dấu yêu/xin mẹ nói cho con được biết/kẻ thù của con mẹ là ai” (Căn phần, Khói hồ bay, tr.209)
Rồi trong nỗi tuyệt vọng, anh tự mình chọn một cách góp phần cho đất nước quê hương:

Hãy trở về Sài Gòn và vào lớp học
Dạy những kẻ sinh sau về đất nước quê hương
Đã không còn đã không còn
Không còn gì cho anh em mới lớn
(Cuộc đời, Khói hồ bay, tr.260)

Có khi người đọc bắt gặp anh chàng thư sinh ấy hoang mang tự thú với mình:

Em
xin em hãy hôn anh cho anh cúi mặt
che giấu nỗi đớn hèn

Chiều nay không biết làm gì anh xuống phố
ngồi trong Pagode một mình
ngó hoài những khuôn mặt cũ
uớc mơ những chuyện không thành
anh tự hỏi anh khi nhìn con phố vắng
mưa xưa hay nắng xưa
trong trái tim anh đã đầy lửa bốc
trong trái tim anh ấp ủ dấu yêu

Em
ôi hồn anh lẻ loi đã khóc
(Ngồi trong Pagode một mình, Khói hồ bay, tr.257-58)

Thơ sau 1975 của Nguyễn Tường Giang chiếm khối lượng chính trong tập Khói hồ bay. Nếu trước 75 chỉ được đưa vào 28 bài thì phần sau 75 ngồn ngộn trong 97 bài thơ bao nỗi niềm của một người nặng lòng với quê hương ở mọi góc độ mà góc độ nào cũng khắc khoải đến nao lòng. Trong đó, nỗi cô đơn sầu xứ như một mạch ngầm chủ đạo không ngừng dào dạt chảy qua từng ký ức, từng khung cảnh làng quê vời vợi nghìn trùng, nhất là một Hà Nội quá nhiều dấu ấn nhớ thương…trong thơ anh. Có khi ta nghe nhân vật trữ tình “tôi” trong thơ Nguyễn Tường Giang- hay chính chàng, tự hỏi:

Chiều nghe thu lẩn khuất bên hồ
ôi những lá sầu nghe đơn lẻ
có nghe căng trong đáy hồn ta
buồn rơi buồn rơi đời quạnh quẽ

Sao ta lưu lạc phương xa này
quê hương gần xa hay đâu đây...
(Thu cảm, Khói hồ bay, tr.53)

Điều cảm động là dù sinh sống ngoài quê hương đất nước, nhưng ý thức gìn giữ hồn dân tộc còn thể hiện qua niềm quý yêu trân trọng tiếng Việt, chữ Việt, theo cách của anh. Anh có bốn người con. Hễ tốt nghiệp đại học là anh cho về Hà Nội, đăng ký học một khóa tiếng Việt bởi theo anh, đơn giản là “cháu nội nhà văn Thạch Lam mà viết câu tiếng Việt không thành thì coi sao được!” Ôi, con trai Thạch Lam, cháu nội Thạch Lam…và tiếng Việt yêu thương… Sau này, anh đã nhiều lần quay trở lại quê hương. Những ngôi chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trấn Quốc… ẩn hiện trong thơ anh, đặc biệt là những dòng sông quê hương, sông Hồng, sông Đáy...vẫn lẩn khuất đâu đó trong tận cùng hồn mộng để rồi không ít lần bơ vơ ngược ùa về trong thơ Nguyễn Tường Giang:

Tôi qua bến đó sầu đơn lẻ
một bờ đê nhớ một bờ đê
giải mây trắng vắt ngang núi cũ
hồn phất phơ gió ngược thổi về.
(Chiều qua sông Hồng, 1996, Khói hồ bay, tr.140)

Có khi là một mình bên bờ sông Đáy ngày nào thân thương, nhưng cảnh vật chắc đã đổi thay sau bao ngày dâu bể khiến lòng anh bỗng thành “kẻ lạ”. Cái cảm giác “lòng như kẻ lạ” đâu phải chỉ riêng anh nhưng sao qua thơ anh thiết thê quá đỗi:

Tôi đứng mà lòng như kẻ lạ

một hồn ma đắm mấy đoạn trường
đêm nghe tiếng vạc kêu sương
về đây rửa nốt vết thương cuối đời.
(Bên bờ sông Đáy, 1997, Khói hồ bay, tr.159)

Du Tử Lê nhận định “Nếu những trang thơ của Nguyễn Tường Giang là những cật vấn trực tiếp với cuộc đời, với nhân thế thì, những trang văn của họ Nguyễn lại là những nhát cuốc đào xới quá khứ lao lung. Một qúa khứ lênh đênh, bập bềnh những những mất mát. Thất lạc. Chia tan.” (Khói hồ bay, Định mệnh khác của Nguyễn Tường Giang). Định mệnh ấy nào của riêng ai. Những ký ức. Những hoài niệm. Chuyện xưa, chuyện nay...đưa buổi gặp gỡ về ngôi nhà lưu niệm của Tự lực văn đoàn đang bỏ không ở Cẩm Giàng, Hải Dương, về chuyến tàu hụt tôi và anh Nguyên Cẩn định đi nửa tháng trước khi Quán văn 50 ra Hà Nội chỉ để đến nhìn một lần cái ga xép đầy bóng tối, hay cái cửa hàng xén cũng đầy bóng tối của chị em Liên và An...

Làm sao tôi quên được những tư tưởng canh tân lãng mạn, quan niệm sống mới mẻ và đẹp đẽ mà Tự lực văn đoàn đã gieo trồng và nẩy chồi đâm lộc bén rễ trong tâm hồn thế hệ chúng tôi. Cho đến bây giờ, tôi như vẫn lặng nghe tiếng chuông chùa Long Giáng một chiều lá đổ khi Lan và Ngọc ngồi bên nhau phút chia tay trong Hồn bướm mơ tiên. Tôi vẫn thấy Lạc và Thức hụp lặn trong sóng nước và tiếng chị ngập ngừng thì thào mà cương quyết ngời ngời đức hy sinh vô bờ: “Thằng Bò…, Cái Bé …, cái Nhớn... Không... Anh phải sống!” trong tác phẩm cùng tên của Khái Hưng mà ngày bé chính tôi đã thuyết trình nhập vai nức nở trong giờ Việt văn lớp Đệ lục của cô Thanh Mai… Tôi cũng thấy Vọi thất thểu sau chuyến Hà Nội về, đi khắp hòn Trống Mái mà viết trên đá hai chữ V-H... Và cả cuộc hôn nhân cũ-mới đầy bi kịch của Loan, "cái cô trắng răng" trong Đoạn tuyệt... Và những Nhung, những Mai, những Lộc, những bà Án, bà Tuần, bà Phủ... trong các câu chuyện “môn đăng hộ đối”, “đa thê”, “mẹ chồng nàng dâu”… đè nặng cái xã hội Việt Nam âm u xám xịt những nho phong lễ giáo cũ kỹ đầu thế kỷ XX… thấp thoáng trang sách Việt văn một thời tranh cãi sôi nổi trong giờ học đệ tam đệ tứ ở Trưng Vương, ở Thánh Mẫu của tôi...

Song ai từng yêu mến những trang văn Tự Lực Văn Đoàn hẳn không khỏi ngậm ngùi xót xa lẫn bất nhẫn khi về phố huyện nơi có ngôi nhà lưu niệm Tự Lực Văn Đoàn đang dường như bị quên lãng, hoang phế tiêu điều lặng lẽ nằm cách ga xép Cẩm Giàng Hải Dương gần 200m. Ngày ngày, ba chuyến tàu vẫn đi về Hải Phòng- Hà Nội, dừng lại Cẩm Giàng 3-4 phút đúng y hình ảnh chuyến tàu đêm qua phố huyện Thạch Lam viết trong Hai đứa trẻ từ thế kỷ trước… Những tiếng còi tàu vẫn hụ dài mỗi chuyến dừng chân hay lăn bánh như âm thanh thường nhật của phố nhỏ,  vẫn cứ thế, cứ thế… Chợt băn khoăn còn ai nhớ ai hay chính chốn này từng là nơi sinh hoạt văn chương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn đình đám làng văn trước kia - một văn đoàn tự lực hoạt động, có tôn chỉ riêng, bị o ép đủ điều bởi nội dung cấp tiến, cổ súy khoa học và cái mới, chống lễ giáo phong kiến cổ hủ lỗi thời… mà có nhà in riêng, có cơ quan ngôn luận riêng, báo Phong Hóa bị đóng cửa thì có báo Ngày Nay thay. Tôi còn nhớ một ví dụ vui về từ đồng âm khác nghĩa thời đại học “Ngày Nay, ngày nay in ở Ngày Nay” Nếu không viết hoa tên báo Ngày Nay và nhà in Ngày Nay, và không biết về hoạt động Tự Lực Văn Đoàn hẳn không ít sinh viên/giáo viên lúng túng. Chỉ hơn 10 năm tồn tại, “thông qua nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa mà Tự Lực Văn Đoàn đã thổi một luồng gió khai phóng vào xã hội Bắc Trung Kỳ, ít nhiều thoát khỏi sự ràng buộc của những lề thói đã không còn thích ứng được với nhu cầu thời đại và tìm ra hướng tiếp cận xu thế hoàn cầu” (Wikipedia) góp phần quan trọng trong việc hình thành chủ nghĩa lãng mạn của Văn học Việt Nam hiện đại những năm 30 đầu thế kỷ XX.  Sau này, qua một số nhà văn miền Bắc, tôi được biết nhiều thế hệ học sinh ngoài ấy hoàn toàn không hề biết tới một thời vàng son của văn xuôi Việt Nam những năm đầu thế kỷ này. Chưa hề đọc Tự Lực Văn Đoàn, chưa hề biết Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam... Mãi lâu sau ngày đất nước thống nhất, giao lưu Bắc Nam tư liệu thông thoáng, một số nhà văn đã tự tìm đọc và ngạc nhiên… sao có một bộ phận văn xuôi lãng mạn hay, đẹp, giàu tính nhân văn tuyệt vời đến thế… Năm 2008, Hội thảo kỷ niệm 80 năm Tự Lực Văn Đoàn được tổ chức ở ngay ngôi nhà lưu niệm danh giá này. Khu đất gia tộc Nguyễn Tường gần như bỏ hoang, an ủi duy nhất là có một cái biển xanh chữ trắng ghi dòng chữ: “Nơi lưu niệm TỰ LỰC VĂN ĐOÀN (1932-1941)” do Uỷ ban nhân dân thị trấn Cẩm Giàng dựng lên năm 2006. Ông Nguyễn Thanh Đạm - người trông nom khu lưu niệm cho biết: “Nhiều tư liệu gồm các tác phẩm của nhóm đã chuyển về các nơi khác để cất, vì ở đây ẩm, mốc lắm" (Không biết còn những gì và đã chuyển đi đâu?). GS Nguyễn Huệ Chi cũng ngậm ngùi: “Bên trong hoàn toàn không còn gì. Nhà Ánh Sáng không còn nữa. Chỉ còn một cái ao, nhiều cây cối. Nếu dựa trên các hồi ký của gia đình TLVĐ mà phục chế lại thì được. Nhưng hiện họ đã có kế hoạch gì đâu. Tiền hình như cũng chưa kiếm được.”
  
Thời gian có phải trong vô tận
âm dương tĩnh lặng khói hồ bay

(Thu ở Vermont, 1990, Khói hồ bay, tr.69)

Vâng. Cho dù Thời gian đang làm chìm mờ đi bao nhiêu dấu vết một thời vang bóng không bao giờ trở lại của Tự Lực Văn Đoàn, của văn xuôi lãng mạn Việt Nam, song thời gian, với Cái Đẹp, tôi tin sẽ mãi là vô tận.

Tình yêu với cái Đẹp và Con người, cùng những giá trị đích thực của nó cũng sẽ mãi là vô tận.

Cảm ơn anh, Nguyễn Tường Giang, người con của Thạch Lam và bao nhiêu tâm huyết của nhiều ngòi bút khác trong và ngoài nước, đã và đang tiếp nối gìn giữ những trang văn, trang đời Tự Lực Văn Đoàn, báu vật của văn chương dân tộc còn mãi với thời gian...

Thị Nghè,
Chiều thứ bảy đầu tiên của tháng 12, 2017

HOÀNG KIM OANH

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: CHỈ LÀ ĐỒ CHƠI Tạp bút © Trịnh Y Thư



GIỚI THIỆU SÁCH MỚI


Văn Học Press
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press

Trân trọng giới thiệu:

CHỈ LÀ
ĐỒ CHƠI
Tạp bút © Trịnh Y Thư


Bìa © Đinh Trường Chinh
Văn Học Press xuất bản, 9/2019
272 trang, giá bán $25.00
Sách in màu trên giấy trắng

Tìm mua trên:
Barnes & Noble
Search Keywords: Chi la do choi
Hoặc bấm vào đường dẫn sau:
https://www.barnesandnoble.com/w/chi-la-do-choi-trinh-y-thu/1133349567?ean=9781078710305



Saturday, September 7, 2019

1246. Tranh TRƯƠNG VŨ: Tĩnh vật, sơn dầu trên bố, 18" x 24", thực hiện năm 2008


Tranh
TRƯƠNG VŨ

TĨNH VẬT
sơn dầu trên bố, 18" x 24", thực hiện năm 2008

Friday, September 6, 2019

1245. SỐNG ĐẸP TUỔI GIÀ Thơ GHYSLAINE DELISLE - Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu

Photo : http://lenirvana.over-blog.com/

SỐNG ĐẸP TUỔI GIÀ

Sống đẹp tuổi già là vui sống,
Không ăn năn, không nuối tiếc gì.
Cứ tiến bước, lòng không hãi sợ,
Tuổi nào mà chẳng đẹp, chẳng vui.

Già sống đẹp, già trong thể chất,
Khỏe trong, ngoài đẹp, cố giữ luôn.
Không từ chối nếu cần gắng sức,
Tuổi già đâu phải tuổi hoàng hôn.

Sống đẹp tuổi già là tự nguyện
Đưa tay cứu đỡ kẻ lạc đường,
Kẻ mất niềm tin vào cuộc sống,
Nghi ngờ lòng tương ái tương thân.

Già sống đẹp, lạc quan tích cực
Không tiếc thương kỷ niệm ngày xuân.
Tóc điểm sương lòng đầy hãnh diện,
Sống hạnh phúc vẫn còn thời gian.

Già sống đẹp tình yêu chan chứa,
Biết cho đi chẳng đợi báo đền.
Dù nơi đâu, cứ sang ngày mới
Vẫn có người chào hỏi thân quen.

Sống đẹp tuổi già là hy vọng,
Hằng đêm đi ngủ lòng thấy vui.
Đến lúc trang sách đời khép lại,
Bình tâm tự nhủ tạm biệt thôi.

THÂN TRỌNG SƠN
chuyển ngữ


VIEILLIR EN BEAUTÉ

Vieillir en beauté, c’est vieillir avec son cœur
Sans remord, sans regret, sans regarder l’heure
Aller de l’avant, cesser d’avoir peur,
Car à chaque âge se rattache un bonheur.
 
Vieillir en beauté, c’est vieillir avec son corps,
Le garder sain en dedans, beau en dehors.
Ne jamais abdiquer devant un effort.
L’âge n’a rien à voir avec la mort.

Vieillir en beauté, c’est donner un coup de pouce
À ceux qui se sentent perdus dans la brousse,
Qui ne croient plus que la vie peut être douce,
Et qu’il y a toujours quelqu’un à la rescousse.

Vieillir en beauté, c’est vieillir positivement.
Ne pas pleurer sur ses souvenirs d’antan.
Être fier d’avoir les cheveux blancs,
Car, pour être heureux, on a encore le temps.

Vieillir en beauté, c’est vieillir avec amour,
Savoir donner sans rien attendre en retour;
Car, où que l’on soit, à l’aube du jour,
Il y a quelqu’un à qui dire bonjour.

Vieillir en beauté, c’est vieillir avec espoir,
Être content de soi en se couchant le soir,
Et lorsque viendra le point de non-recevoir,
Se dire qu’au fond, c’est n’est qu’un au revoir.

GHYSLAINE  DELISLE

1244. TRẦN YÊN HÒA Một Thành Tôn khác


 
Một lần, ngồi ở quán cà phê, có nhà văn Cung Tích Biền và họa sĩ Trịnh Cung, tôi nhớ, một người nói:
 
- Ở đâu có Thành Tôn là có Trần Yên Hòa...

Câu nói xác nhận là tôi và nhà thơ Thành Tôn thân thiết đến độ, đi cà phê hoặc "lai rai rai ba sợi" ở đâu, cũng có nhau.
 
Câu nói này cũng chỉ đúng một nửa, vì, từ mấy năm nay, tôi sống khép mình, chỉ muốn ở nhà viết lách chút đỉnh, đọc và post bài trên Bạn Văn Nghệ, rồi đi tập thể dục ở Gym. Ít đi la cà cà phê với ai, trừ một số bạn văn thân, rất thân. Trong lúc anh Thành Tôn thì bạn bè nhiều, nhất là với các bạn học, bạn văn, xa, gần, trước, sau...Anh đều tiếp đãi cà phê, rất ngọt.

Nhưng, nói gì thì nói, tôi với anh Thành Tôn đã kết thân từ hơn hai mươi năm qua, tôi coi Thành Tôn như người anh, vì tôi biết những tính tốt của anh đối với bạn bè. Và anh cũng coi tôi như một người em, vừa đồng môn, vì học cùng trường thời trung học, dù khác lớp, vừa cùng quê Quảng Nam, vừa là bạn văn nghệ, nên nhiều khi anh em tâm sự thật lòng.

Nên, nhân đây, tôi cũng xin ghi lại một chút về tình thân của chúng tôi.

Tôi "biết" anh Thành Tôn trước khi "quen", từ ngày anh học ở Tam Kỳ, làm việc ở Tam Kỳ, làm rể ở Tam Kỳ, làm thơ ở Tam Kỳ. Nhưng chỉ biết thôi. Thuở đó, anh đã có những "bài thơ" lẫm liệt, đăng ở các tạp chí văn học danh giá Sài Gòn, lại xuất bản tập thơ Thắp Tình nữa, nên tên tuổi Thành Tôn trong giới văn học, hay đọc sách, ai cũng biết.

Cho đến mãi những tháng năm qua Mỹ, tôi mới gặp Thành Tôn bằng xương bằng thịt.

Nhà thơ Thành Tôn

Anh trong nhóm 5 anh em "hội cà phê" chúng tôi: Trần Văn Nam, Đạm Thạch, Phạm Phú Minh, Thành Tôn và Trần Yên Hòa...trong suốt nhiều năm...Đến khi Đạm Thạch di chuyển sang sống với con ở Arizona, Trần Văn Nam mất, Phạm Phú Minh hơi mệt, ít đi cà phê...nên chỉ còn tôi và Thành Tôn bám trụ, cầm cự hai tuần một lần, đều chi.
 

Bây giờ tôi viết về một Thành Tôn "khác", chứ không viết về Thanh Tôn Thơ, hoặc Thành Tôn Sách nữa, vì (hình như) đã có 5, 6, nhà văn, nhà thơ thân hữu viết về anh rồi. Một Thành Tôn "khác" của tôi ở đây là về một Thành Tôn đời thường: Thành Tôn với bạn bè, gia đình...và tình yêu.
 
Tôi chỉ nhìn anh ở khía cạnh đó…

Với bạn văn 
 
Với Thành Tôn, ai cầm bút viết được, ở mọi lãnh vực, anh đều trân quý...Đã là người viết, tác phẩm có giá trị hay không, nếu có Thư Mời anh tham dự Ra Mắt Sách, anh đều đến tham dự, và mua sách ủng hộ. Anh nói, mua để giữ làm tài liệu, nhưng thật ra thì anh mua ủng hộ thôi, để tác giả thu lại tiền in ấn.

Còn những quyển sách giá trị, bằng bất cứ giá nào, dù ở VN hay ở Pháp, Úc, anh đều tìm mua cho bằng được, nếu khó quá, anh biết ai có sách, anh mượn về copy toàn quyển sách để cất giữ, còn bản chính trả lại cho chủ nhân.

Đối với các bạn văn lớn tuổi hơn, hiện sống ở Little Sài Gòn, như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, Viên Linh (trước đây), họa sĩ Hồ Thành Đức, Khánh Trường...anh thường đến thăm và sẳn sàng giúp đỡ, như chở đi bác sĩ, hướng dẫn về việc xin phúc lợi An Sinh Xã Hội, Ngân Hàng...hay đi cà phê. Đã nhờ anh giúp đỡ là anh không từ chối...Dù bận bịu anh cũng dành thì giờ để đến giúp với lòng vui vẻ...

Còn các bạn văn ở xa, đồng thời với anh như Song Thao, Trần Doãn Nho, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Hoàng Lộc... thì anh điện thoại thăm hỏi thường xuyên, có thể hàng tuần...Các bạn văn ở xa, nhiều khi xa Little SG, nam Cali, muốn biết sinh hoạt văn học nghệ thuật ở thủ đô nhỏ này ra sao, anh đều vui vẻ kể cho bạn nghe, hay nghe bạn kể, có lúc cuộc trò chuyện, tâm sự lên đến cả ba chục phút hay cả tiếng đồng hồ.

Cho nên các bạn văn ở xa về thủ đô nhỏ, thường đều "hú" Thành Tôn, anh rất vui vẻ, hạnh phúc gặp lại bạn và thường hẹn nhau chiêu đãi cà phê hay "lai rai ba sợi" ở quán hay ở nhà anh. Anh rất hào phóng với tất cả anh em văn nghệ, dù có "hao".

Phan Xuân Sinh từ Houston qua gọi Thành Tôn, Đức Phổ từ Georgia qua gọi Thành Tôn, Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn, Nam Dao... từ Canada qua gọi Thành Tôn, Nguyễn Xuân Thiệp, Trần Doãn Nho từ Dallas qua gọi Thành Tôn, Nguyễn Thanh Châu (nhờ tôi) gọi Thành Tôn, Đông Nghi (nhờ tôi) gọi Thành Tôn, Phan Nguyên, Từ Hoài Tấn, Lữ Kiều, Hạ Đình Thao, từ VN qua Mỹ, cũng gọi Thành Tôn.

Được ngồi cà phê hay "lai rai" với anh đều rất vui, đều nhận thấy cái thực lòng ở anh....Nghĩa là tiếng lành đồn xa...như ngày xưa bên Tàu, có ông Mạnh Thường Quân, ông là một người giàu có, lại có lòng nghĩa hiệp, thích chiêu hiền đãi sĩ, văn cũng như võ trong nhà lúc nào cũng tiếp đãi đến vài nghìn tân khách (theo wikipedia). Thành Tôn thì không giàu, anh đã về hưu, nhưng tấm lòng anh cũng na ná như vậy. Không biết Mạnh Thường Quân xưa có cầu cho được "tiếng" hay không, nhưng với Thành Tôn, tôi biết, anh chỉ mong mọi bạn bè "vui thôi mà" (lời Bùi Giáng).

Những ngày trước, khi nhóm năm người chúng tôi còn sinh hoạt, trước khi cà phê, thường lai rai ba sợi, ở quán Hợp hay đâu đó, rồi mới qua cà phê. Khi đã có chút "hơi cay" vào, Thành Tôn ăn nói cũng "lớn tiếng" lắm. Lớn tiếng chỉ thuần theo nghĩa đen, nghĩa là giọng anh còn rặt giọng Quảng Nam, nên anh nói thường to hơn người khác. Những lúc đó, anh vui kể chuyện, những giai thoại Bùi Giáng ở quê, ngày còn nhỏ. Bùi Giáng là lứa tuổi với cha anh, nhưng lại muốn kết bạn với anh. Rồi những "tật" của Bùi Giáng, trong đời thường và trong thơ văn, anh lại đọc mấy câu thơ của Bùi Giáng...Giọng Thành Tôn to, lớn, câu chuyện kể khá hấp dẫn khiến ai cũng muốn nghe...Nhiều người ngồi bàn bên, có thể không hiểu, tưởng là anh đang cải lộn. Nhưng không, đó là anh thể hiện tính ăn to nói lớn của người Quảng Nam thôi.
 
Anh hiền, rất hiền. Anh chơi với ai cũng được, chưa bao giờ làm mất lòng ai. Đã nhiều lần anh nói: "Chơi với bạn, mình chỉ nhìn vào cái tốt của bạn đó thôi." Nên anh hoàn toàn là bạn của tất cả anh em văn nghệ.

Nhiều lúc ngồi với nhau cà phê hay "lai rai ba sợi", Thành Tôn kể về những ngày lính tráng của anh.
 
Tôi đã nghe và xin ghi lại sau:

Tôi đã nghe và xin ghi lại sau:

Chuyện đi lính của anh cũng rất hấp dẫn, hồi hộp và mang tính giai thoại.

Hồi đó khoảng những năm 1965, 66...Thành Tôn đang dạy học ở trường Phan Thanh Giản, Đà Nẵng. Đi dạy nhưng anh cư trú không ổn định, thường thay đổi địa chỉ nên Giấy Gọi Đi Thủ Đức theo lệnh Động Viên không đến tay anh. Một hôm xong buổi dạy ra về, thì anh gặp một toán cảnh sát đang đón đường hỏi giấy tờ quân dịch của thanh niên. Thành Tôn bị chận hỏi và bị "hốt" ngay, vì lứa tuổi anh đúng ra là phải bị động viên vào Thủ Đức khóa trước, sao còn ở ngoài đi dạy tà tà vậy. Anh bị đưa vào trại Nhập Ngũ số 1, để đi thụ huấn tân binh quân dịch, vì anh thuộc diện không tuân hành lệnh Tổng Động Viên.

Anh bị đưa vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thụ huấn 9 tuần để ra làm tân binh, deuxieme cùi bắp (binh nhì). May nhờ có nhà văn Trần Phong Giao, lúc này làm Tổng Thơ Ký Tạp chí Văn, khi biết tin Thành Tôn "bị nạn", liền viết đơn lên Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng, giải thích sự việc, là vì địa chỉ anh thay đổi nên không nhận được lệnh gọi đi Thủ Đức, chứ không phải anh trốn lính. Lúc này Nha Động Viên do Thiếu tướng Bùi Đình Đạm làm Tổng Giám Đốc, biết được nỗi oan ức của Thành Tôn, nên ra lệnh chuyển anh qua tiếp tục Khóa 2... Thủ Đức...Thế là Thành Tôn trở thành Sĩ Quan, và khi ra trường, xin về phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Tín. Thành Tôn làm ở đây đến tháng 3.1975.

Thành Tôn làm ở Khối CTCT/TK Quảng Tín, sau đó vì tính cần mẫn, thật thà và uy tín, rất được mọi người nễ phục.

Đại tá tiểu khu trưởng kiêm tỉnh trưởng Quảng Tín, biết anh, nên bổ nhiệm anh làm bí thư. Anh làm chức vụ này trong hai đời tỉnh trưởng...Với vị đại tá sau, có lần Thành Tôn, đã đập bàn cải lộn với xếp vì khác ý kiến, và Thành Tôn tự xin phép rời khỏi chức vụ bí thư, với đơn xin sẽ làm việc ở bất kỳ đơn vị nào…
 
Cuối cùng Thành Tôn trở về lại Khối CTCT/TK Quảng Tín.

Thời gian này, ngoài công việc là sĩ quan quân đội, Thành Tôn còn là người đứng ra phát hành sách cho các nhà xuất bản như Lá Bối, An Tiêm, Giữ Thơm Quê Mẹ...

Anh là người yêu sách, và là bạn với các chủ nhà xuất bản trên, anh đã đứng ra phát hành sách đến các tiệm sách ở Tam Kỳ,  Quảng Tín, Quảng Nam, Hội An, Đà Nẵng...nhiều khi ra đến tận Huế. Những chủ nhà xuất bản này đều tin cậy Thành Tôn.

Sau này, qua Mỹ, anh có gặp lại các ông Thanh Tuệ (chủ nhà xuất bản An Tiêm...từ Pháp qua, và bị bịnh mất ở Mỹ), ông Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Lá Bối trước 1975, và Văn Nghệ ở Mỹ (Nam Cali). Tình thân của anh với ông Võ Thắng Tiết rất đậm đà. Những buổi cà phê của chúng tôi, đôi khi Thành Tôn mời ông Võ Thắng Tiết cùng tham dự. Nhưng sau, ông Tiết vốn trước là một tu sĩ Phật giáo, nên ông ít cà phê, ít la cà, nên những buổi cà phê với ông cũng ít dần. Tuy nhiên, khi ông Võ Thắng Tiết bịnh nằm ở bịnh viện viện Fountain Valley, thì Thành Tôn cũng rủ tôi và anh Phạm Phú Minh đến thăm...tình cảm rất chân thành. Sự liên lạc, thăm hỏi nhau với ông Võ Thắng Tiết, Thành Tôn vẫn giữ đến tận bây giờ.

Đến nhà Thành Tôn, một căn Apt nhỏ, 1 phòng, cho hai vợ chồng. Nhà anh đúng là một thư viện sách. Ngoài sách ra, trên kệ cao, anh còn lập một bàn thờ, thờ ba người bạn văn quá cố, đã có một thời gắn bó với Thành Tôn. Đó là nhà thơ Bùi Giáng, nhà văn Võ Phiến và Họa sĩ Đinh Cường.

Chuyện tình.

Phải nói là chuyện vợ chồng của Thành Tôn và chị Phan Thị Trinh đã hơn sáu mươi năm qua, một tình yêu, một người yêu...suốt trong thời gian dài như vậy, không suy suyển. Trung Thành và Duy Nhất. Một và chỉ Một mà thôi.

Chuyện này, nói thì dễ, nhưng thực hành rất khó, nhất là đàn ông ở tuổi thanh niên, trung niên...có chức có quyền một tí, lại là nhà thơ nổi tiếng nữa...ai cũng có chút tình ngoài luồng...Nhưng với Thành Tôn và Phan Thị Trinh thì đúng là một và chỉ một mà thôi.

Hai người yêu nhau từ ngày còn là học sinh, cùng lớp, cùng trường. Yêu nhau rồi lấy nhau và gắn bó với nhau suốt gần sáu mươi năm. Khi đi lính, chàng đóng ở một phương, Tam Kỳ, nàng làm công chức ở Đà Nẵng, nên chỉ gặp nhau cuối tuần hay một, hai tuần mới về thăm nhau một lần. Rồi đến ngày chàng đi cải tạo, chàng ở tù ròng rả suốt gần chín năm ngoài Bắc, còn nàng ở nhà lo làm ăn, nuôi con, nuôi chồng, cơm đùm cơm gói thăm nuôi. Mãi sau 9 năm xa cách, vợ chồng mới đoàn tụ. (theo Thành Tôn, những ngày đi tù ngoài bắc, đi đốn gỗ, anh bị cây ngã đè bị thương ở đầu và tay, nên bây giờ tay anh viết bị run, đầu anh không tập trung, nhớ cái được cái mất, nên anh không làm thơ nữa là vì vậy).

Anh chị có ba người con, hai gái, một trai. Cô con gái đầu tốt nghiệp bác sĩ Nhi Khoa thuộc loại xuất sắc ở VN, và đi tu nghiệp ở Pháp, với những công trình nghiên cứu lâm sàng, được giới y khoa Pháp công nhận và được báo chí Pháp viết bài khen ngợi.
 
Hai người con còn lại cũng tốt nghiệp đại học và hiện đang có công việc tốt, hiện cư ngụ gần anh (nam CA).

Viết bài này tôi muốn không đề cập đến chuyện Thơ, nhưng khi nói đến tình yêu, thì cũng nên nói chuyện thơ của chàng một tí.

Bài thơ Nói Với Cô Bé Ngồi Quán của Thành Tôn, trong tập Thắp Tình như sau:

Vào đây, ghế quạnh, khuya người
Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian
Quầy trơ, mắt bé ngỡ ngàng
Thuyền ai đổ bến, lòng nàng bâng khuâng

Hồn ta trải gió đầy sân
Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao
 
Vào đây bàn nhẵn, câu chào
Quen như thân thể, lạ nào chén ly
Đời nhau, khói thuốc quên đi
Bên tai cổ nhạc lầm lỳ canh tân
Trên kia dáng bé tần ngần
Lời yêu chậm nói, tình gần tay trao

Vào đây đèn đủ hanh hao
Bóng ai theo đến kẻ nào quay lui
Cúi đời trên chén ly, khuya
Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng

Ngồi thầm, góc quán mông lung
Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai 
 
Vào đây nhạc đĩa đầy vai
Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen
Mòn hao sợi tóc trăm năm
Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau
 
Ngậm lòng, quán vắng, ơn nhau
Ly trơ ghế nóng, bé chau mắt nhìn  
 
Vào đây như một đức tin
Khói tan đốm thuốc, đời vin tay nào 
Miệng cười kín nụ lao đao
Tình chia nghĩa sớt, câu chào riêng ai

Trách gì ý lỡ, lời sai
Cho nhau góc quán đêm dài dung thân 
 
Thôi em trả đó tình gần
Ta xin bóng chiếc, đời cần nhau, đâu?
Vào đây, ghế quạnh, khuya nhàu
Tình như cổ tích đời sau kể thầm.
 
Bài thơ này, theo như chị Phan Thị Trinh, (chị Thành Tôn) nói là, anh làm cho một người con gái nữ sinh Tam Kỳ, sắc nước hương trời thời đó, là cô T. Cô vừa là nữ sinh, vừa là con chủ quán cà phê và Mì LK. Cô này đẹp nổi tiếng ở TK. Cô có đôi mắt đẹp như thuyền, đôi môi không thoa son mà luôn đỏ như son. Cô là "cây đinh" ở đây, nên nhiều nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, sĩ quan quân đội đi hành quân về Tam Kỳ, thường ghé quán cô ăn mì, uống cà phê, để được diện kiến dung nhan cô.

Nhưng theo Thành Tôn, là không phải, đây chỉ là hình ảnh cô bé bán quán cà phê ở gần Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Tín, nơi anh làm việc  thôi. Đó là những buổi trực khuya cùng bạn lính, rủ nhau đi cà phê, vào ngồi quán này. Cái rung động với cô bé ngồi quán trong bài thơ, chỉ là rung động tự nhiên về vẻ đẹp của thiếu nữ...Chứ không phải cho một người con gái nào hiện thực cả...
 
Đây là một bài lục bát hay, rất hay, theo tôi. Thành Tôn dùng từ lạ, ý lạ (ghế quạnh, khuya người, nhạc đời nhân gian, quày trơ, trải gió, đủ hanh hao, cúi đời, mưng máu chậm, bừng tim gan, khuya nhàu...). Cách chấm câu, dấu phếch, rất mới (vào những năm 1968 - 1969...mà dùng từ như thế này thì quá mới).
 
Tôi rất thích bài thơ này, và có thể nói rằng, đây là một trong những bài lục bát hay nhất VN. 
 

Dài dòng quá cũng đến lúc dừng lại. Tôi xin kết ở đây.
 
Chúc mừng nhà thơ Thành Tôn, nay là thời điểm cuối tháng 8 - 2019, anh suýt soát tám mươi, qua một trận bịnh trầm kha, anh đã khỏe lại, da thịt anh hồng hào, lời nói sang sảng, đi đứng vững vàng, tai còn nghe rất rõ, mắt còn nhìn rất tinh tường...

Anh lại (còn) làm việc chuyên cần, là hằng ngày, đọc các Web văn nghệ, tin tức, sách, và Facebook của bạn bè, (dù anh không có Fb), nên có tin gì của anh em văn nghệ, anh đều biết...Rồi anh bỏ thời gian scan, copy hàng chục ngàn trang sách. Tất cả những số của tạp chí Thế Kỷ 21, Hợp Lưu đều do một tay anh làm, rồi chuyển cho Nguyễn Vũ bỏ lên ebooks...

Anh cũng vì thương bạn bè, nên anh đã tự thực hiện những tác phẩm về Thơ của bạn, như tập thơ Con Cá Lưu Vong của Đạm Thạch, Thơ Trần Văn Nam...Những bạn văn ở xa thích đọc sách, như Lưu Vỹ Bửu ở OH, bạn văn cùng quê, anh đã scan và đóng thành tập cuốn "Những truyện ngắn hay nhất quê hương ta (cả trên 6, 7 trăm trang)" do Nguyễn Đông Ngạc sưu tầm và xuất bản, gởi biếu Lưu Vỹ Bửu. Huy Tưởng tận bên Úc cũng nhận được sách do Thành Tôn thực hiện và gởi biếu.  (Rất nhiều bạn văn được anh biếu sách...không kể hết được.)

Hay là sách của tôi, tôi nhờ anh là anh gật đầu đồng ý giúp ngay, anh scan cả 5 tác phẩm, truyện ngắn, truyện dài, thơ, của tôi lên cả hơn ngàn trang...để đưa lên ebooks, cực thế mà anh vẫn vui vẻ làm...

Xin anh chân cứng đá mềm, sức khỏe mãi, để vui cùng với tình bạn văn, cùng sách vở, và cùng với  gia đình anh, vợ, con, cháu anh...
 
Xin nói thêm chút xíu, là anh có những đứa con rất ngoan, rất hiếu thảo, nhất là có cô con dâu rất tốt, rất thương anh. Cô con dâu  thường đem đồ ăn, rượu, bia, đến cho ba uống trong những buổi chiều. Nhiều buổi chiều, nhìn thấy anh ngồi uống một mình, buồn, nên cô con dâu cũng xin cụng ly với ba, vài ngụm...để ba vui.

Mong anh sẽ còn thời gian...mười, hai mươi, ba mươi năm vui nữa, nhé anh.

TRẦN YÊN HÒA
Nguồn: Trang VHNT Bạn Văn Nghệ, 4 tháng 9.2019