Thursday, January 23, 2020

Giới thiệu tạp chí VĂN HỌC VIỆT Xuân Canh Tý 2020


BÀI VỞ XIN GỬI VỀ:
tcvanhocviet@gmail.com

1421. ĐINH TRƯỜNG CHINH Ông Nội tôi cũng là họa sĩ

Ảnh minh họa Artist at work - Nguồn ảnh: Vector image

ngày xưa, trước Tết, tôi vẫn thường theo ông cụ lên Gò Dưa thăm mộ ông Nội . tấm hình kèm đây là một kỷ niệm quý, hiếm hoi. đến mộ Ông Nội xong, lần nào hai cha con cũng qua thắp nhang cho mộ Hoàng Trúc Ly gần đó. bây giờ Gò Dưa còn có thêm ông Bùi Giáng, ông Trịnh Công Sơn ...đã "đăng ký hộ khẩu thường trú" .  tuy rất ít thông tin, ông Nội tôi cũng là một tay hoạ sĩ cừ khôi. trong xóm Tân Định thời ấy, người ta gọi ông là "ông Năm".  ông không trở thành hoạ sĩ sáng tác thực thụ như con trai, nhưng rất nổi tiếng Sài Gòn thời ấy nếu ai cần vẽ chi tiết , đồ hoạ, vẽ những gì thật tỉ mỉ . Ông vẽ như thật. Sau 75, mình còn nhớ ông Nội vẽ một góc tờ tiền bị mất, nối vào để xài. Ông kiếm được tiền nhờ vẽ những nhãn chai rượu, bao thuốc (giả) ...y như hàng "gin", thời bao cấp khó khăn. tôi đã được ông Nội đèo theo đi "giao hàng" (các mẫu vẽ nhãn rượu) vài lần. Sài Gòn thời ấy chỉ 1, 2 người vẽ được (và chịu vẽ) như thế.  có lần, một người bạn bố đến chơi, thấy trên bàn có điếu thuốc đầu lọc, lấy tay tính cầm lên hút, thì ra là điều thuốc ông Nội vẽ trên giấy, để trên mặt bàn. tấm tranh chân dung hiếm hoi dưới đây là của ông vẽ cho một cô "đầm" thời ấy.  

Tranh ông Nội Đinh Dõng vẽ

ĐC, đtc đi thăm mộ ông Nội, 1989

trong một bài về ĐC, Trịnh Cung đã viết :  

"...Năm sau Đinh Cường tốt nghiệp và gặp lại tôi ở Sài Gòn vì Đinh Cường có nhà của ba mẹ tại Tân Định – Sài Gòn. Ba của Đinh Cường là Bác Dõng, một họa sĩ chuyên vẽ các mẫu huy hiệu, các logo có nhiều chi tiết cực nhỏ. Ông có cái bàn nhỏ để sát tường với bộ cọ đặc biệt dành đi những nét tinh vi, một cái kính lúp để nhìn rõ hơn các chi tiết của mẫu vẽ. Ông là một người vui tính và để cho con cái được tự do theo đuổi sở thích của mình. Đặc biệt, vợ ông, mẹ của Đinh Cường, là một bà mẹ hiền hậu, hết mực thương con. Dù không giàu có nhưng bạn tôi, Đinh Cường được bà không để cho thiếu tiền trong túi mỗi khi ra đường. Lúc còn đi học Mỹ Thuật Huế, Đinh Cường đã có xe Vélo Solex, thời này, ở Sài Gòn đã sang lắm rồi huống chi là ở Huế. Trong ba chàng ngự lâm pháo thủ chúng tôi, Trịnh Công Sơn và Trịnh Cung là nghèo rớt mồng tơi. Tôi không đủ tiền ăn cơm tháng, phải đi ăn cơm xã hội, cơm giá bèo do nhà nước tổ chức dành cho người nghèo. Hồi đó, quán cơm này nằm bên bờ sông Hương gần chân cầu Trường Tiền, phía phố Trần Hưng Đạo..." (http://damau.org/archives/38822)

thời tuổi nhỏ, Bố tôi sống trong đồn điền cao su Terre Rouge của ông Nội tôi. những rừng cây cao su bạt ngàn đất đỏ ở Thủ Dầu Một, tuổi thơ của Bố tôi. "ông Năm" nói tiếng Pháp giỏi . lúc gần qua đời, cuối năm 2015, nằm mê man nhớ những chuyện xa xưa, Bố tôi có viết một  "nhật ký thơ" cảm động, nhắc đến "cha". đó là lần hiếm hoi, bố tôi nói về cha mình. 


"Mẹ bồng thì cũng thường thôi
Cha bồng sao cứ nhớ hoài cha ơi 
...cha bây giờ nằm bên nghĩa trang Gò Dưa
xa nửa quả địa cầu. mẹ nằm bên Hồ Muối
con thuơng cha nhớ mẹ vô cùng .."

những ngày cuối năm , tôi nhớ Cha tôi , nhớ Cha tôi nhớ đến Cha mình. ôi cha mẹ của những "đứa con đi hoang trở về"... đi mê hoang trong mải miết của tranh, của thơ , của nỗi cô đơn, đi tìm những cái đẹp vô hình, dường như không bao giờ chạm đến ....

ông Nội tôi đã mất ở Sài Gòn một ngày giáp Tết, sau 1975. ông đã nằm ngủ một giấc ngon sau khi đi uống rượu về, rồi không bao giờ dậy nữa.

đinh trường chinh
23.1.2020

Tuesday, January 21, 2020

1421. AI LÊN XỨ HOA ĐÀO Sáng tác: Hoàng Nguyên Trình bày: Khánh Ly



AI LÊN
XỨ HOA ĐÀO
Sáng tác: Hoàng Nguyên
Trình bày: Khánh Ly

Bấm vào ảnh dưới đây để nghe
KHÁNH LY trình bày ca khúc AI LÊN XỨ HOA ĐÀO

Chân dung Khánh Ly
sơn dầu trên giấy 18 x 24 in,  đinhcường



1420. TRỊNH Y THƯ Du Tử Lê, Con Người Cô Đơn



Trịnh Y Thư
DU TỬ LÊ,
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN

Chân dung Du Tử Lê
sơn dầu trên giấy 18 x 20 in ,  đinhcường

Sinh sống trong cùng một khu vực, quanh quẩn gồm chỉ mươi dãy phố xúm xít hàng quán và chợ búa người Việt nên tôi hay gặp ông ngồi quán với những bằng hữu văn nghệ của ông. Cũng có khi tôi thấy ông ngồi một mình. Những lần gặp gỡ, tôi lại bắt tay từng người, ngồi nói dăm ba câu chuyện vãn rồi kiếu từ. Ông ít nói, chỉ hay cười, nụ cười rạng rỡ, lành, và khi cười thì khuôn mặt hơi đen sạm nhiều vết nhăn ấy bỗng nhiên như sáng hẳn lên, kéo theo đôi mắt cũng cười. Mặc dù biết tiếng ông và đọc thơ văn ông nhiều, từ thời còn là thanh niên, nhưng tôi chỉ thật sự thân thiết với ông quãng một năm trước ngày ông đột ngột ra đi, chính xác hơn là từ lúc tôi nhận in cho ông tập thơ em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình. (Hóa ra đó là thi phẩm cuối cùng của ông.)
   Tôi để ý, tuy có nhiều bằng hữu xung quanh, nhưng trông ông lúc nào cũng như xa vắng, cô đơn.
   Tôi biết tiếng ông từ lúc ông làm tờ Quê Hương tại vùng OC, thời gian cuối thập niên 70, khi cuộc sống tha hương vẫn chưa thật sự ổn định, và sau đó là tờ Tay Phải cùng quán cà phê Tay Trái. (Tay phải viết, còn tay trái pha cà phê kiếm tiền nuôi tay phải.) Ông năng nổ, quán xuyến một lúc nhiều việc. Ông có tài ăn nói trước công chúng, trí thức nhưng ấm áp, rành mạch, trôi chảy, vừa phải, nên được đám đông mến mộ. Thời gian gần đây, sức khỏe suy kém nhiều, nhưng ông vẫn nhiệt tình đi tham dự những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ. Triển lãm tranh họa  sĩ  Nguyễn Đình Thuần, triển lãm tranh họa sĩ Trịnh Cung, đêm nhạc Trần Dạ Từ, ra mắt tập thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, v.v… lúc nào cũng thấy ông thân ái chia sẻ điều gì đó với bằng hữu và mọi người xung quanh bằng những phát biểu ngắn gọn, hàm súc; và với giọng nói tuy không sang sảng nhưng chắc, ấm, tiếng ông vừa cất lên thì đám khách ồn ào thích đùa cợt vui nhộn giữa đám đông bên dưới phải hãm bớt thanh quản mình, nghe ông nói.
   Ông cũng đi nhiều, khắp nơi có cộng đồng người Việt, ra mắt sách, gặp gỡ bằng hữu, tiệc tùng, cà phê, không ngớt. Bản tính ôn nhu, hòa hoãn, ân cần, điềm đạm của ông làm người đối diện thấy thoải mái, dễ chịu khi tiếp xúc. Dạo sau này, vì có sách xuất bản và tái bản ở Việt Nam, nên ông cũng hay về thăm, kết thân với nhiều văn nghệ sĩ, cả trong Nam lẫn ngoài Bắc.
   Một người như vậy, làm sao có thể gọi là “cô đơn” được? 
   Từ lâu tôi tin rằng kẻ viết văn, làm thơ là kẻ bị chứng psychosis nhũng nhiễu, hắn sống trong thế giới tưởng tượng của riêng hắn, một thế giới chỉ hắn chứ không ai khác có thể nhận thức. Kỳ thực, hắn sống cùng lúc hai thế giới. Nơi thế giới ngoại tại có thể hắn là người không cô độc, nhưng bên trong thế giới nội tại của riêng hắn, hắn là kẻ cực kỳ cô đơn.
   Đây là một nghịch lý của văn chương. Viết là giao cảm với kẻ khác, với ngoại cảnh, nhưng viết cũng là đối diện với cái cô đơn cùng cực, khiếp hãi của chính mình. Vì cô đơn nên mới viết, và viết để “giao hòa” với thế giới bên ngoài; có nghĩa là, bạn phải “cách ly” mình ra khỏi thế giới để trong tương lai “hội nhập” vào nó qua một tương tác kỳ bí, kỳ diệu nào đó. Biện chứng của cô đơn được nhà thơ Octavio Paz gói ghém trong câu nói “… Con người là hữu thể duy nhất biết mình cô đơn, và chỉ con người mới đi tìm con người khác,” in trong cuốn tiểu luận danh tiếng The Labyrinth of Solitude.
   Tôi nghĩ ông là người như thế.
  Trọn đời ông sống trọn tình trọn nghĩa với chữ nghĩa của mình. Với ông, chữ nghĩa là tất cả. Câu nói cuối cùng ông phát biểu trước mặt bằng hữu văn nghệ hôm 5/10/2019 tại quán café Hạt Ngò (vỏn vẹn hai ngày trước khi ông qua đời), tôi nhớ mãi, “… Chữ nghĩa là nhan sắc của thơ…” Câu nói tuy đơn giản nhưng đầy hàm lượng, nó tóm gọn chủ đích và ý nghĩa tinh tuyền nhất cho toàn bộ sự nghiệp thi ca đồ sộ của ông. Thơ vì chữ nghĩa, chữ nghĩa vì thơ. Và, lúc cô đơn nhất, chỉ có “chữ nghĩa làm nhan sắc thơ,” tuyệt đối không một thứ gì khác xen vào, là những giây phút hạnh phúc nhất của ông.
   Tôi nghĩ ông là kẻ biết tìm hạnh phúc. Tìm cho đến hơi thở cuối cùng cuộc đời mình.
   Vì thời gian quen biết quá ít ỏi nên tôi không có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với ông. Tuy vậy, ông cũng tặng tôi một bài thơ và viết một bài nhận định khá dài về tập thơ của tôi xuất bản năm 2017. (Ông là một trường hợp hiếm hoi của văn chương Việt Nam, nguồn lửa sáng tạo vẫn sung mãn ở tuổi xế bóng, và ngòi bút không ngừng tuôn ra những câu chữ diệu kỳ.)
   Một lần tôi đưa ông về nhà sau buổi cà phê sáng, xuống xe, thay vì bước vào nhà, ông giữ tôi lại đứng trước cánh cổng sắt dềnh dàng chắn ngang khoảng sân rộng, trời đang vào xuân, lá non hớn hở trên cành, nói chuyện khá lâu.
   Nói lan man nhiều chuyện, nhiều đề tài, văn chương cũng như phi văn chương. Về con người nghệ sĩ, ông bảo tôi xã hội có nới lỏng đường biên cho người nghệ sĩ, ưu đãi hắn hơn mức bình thường, cho phép hắn làm một số những điều bị xem là ta-bu, nhưng nếu hắn buông thả dây cương giẫm qua đường biên đã nới lỏng ấy, làm nhiều điều xằng bậy thì chính hắn sẽ tự đào hố chôn vùi tên tuổi hắn. Tôi nghĩ ông thật chí tình khi nói những điều này.
   Không ngờ đó là lần nói chuyện thân mật, tương đắc duy nhất giữa ông và tôi.

TRỊNH Y THƯ

– Trích Người về như bụi, Tuyển tập Tưởng niệm Thi sĩ Du Tử Lê.



Monday, January 20, 2020

1419. Tranh TRƯƠNG VŨ Như Kiếp Nhân Sinh: Sơn dầu trên bố, 16" x 20", thực hiện năm 2014

Tranh
TRƯƠNG VŨ

Như Kiếp Nhân Sinh:
Sơn dầu trên bố, 16" x 20", thực hiện năm 2014.

1418. ANH CHO EM MÙA XUÂN Thơ Kim Tuấn – Nguyễn Hiền phổ nhạc - Ca sĩ: Hồ Hoàng Yến




A N H   C H O   E M
MÙA XUÂN
Thơ Kim Tuấn – Nguyễn Hiền phổ nhạc
Ca sĩ: Hồ Hoàng Yến

Bấm vào ảnh dưới đây
để nghe Hồ Hoàng Yến trình bày ca khúc
ANH CHO EM MÙA XUÂN





Sunday, January 19, 2020

1417. PHAN NI TẤN Bồ Tát Đình

Chân dung Phan Ni Tấn - Nguyễn Trọng Khôi vẽ


Cuối cùng tôi cũng bỏ cha tôi mà đi. Anh hai, chị ba, anh tư đã được cha dựng vợ gả chồng ra riêng từ nhiều năm trước. Vì kế sinh nhai ở xa quê nên ít khi mấy người về thăm. Khi tôi vào chùa quy y tam bảo, những ngày tháng tu học ở chùa, tôi biết cha tôi còn lại một mình với cỏ cây, với trăng sao, mưa nắng.
Hồi tưởng lại ngày tháng dưới một mái nhà với cha và các anh chị mà lòng bồi hồi. Khi tôi vừa đủ trí khôn mới biết cha tôi sống cô quạnh một mình, không bà con thân thích và rất nghèo. Nghèo nhưng cha con chúng tôi đều yêu thương nhau, đùm bọc lấy nhau. Tôi là con út nên được chiều chuộng nhiều. Để nuôi con khôn lớn, cha tôi đã nai lưng làm đủ mọi nghề. Lúc thì làm thợ hồ, thợ mộc, lúc thì mần ruộng thuê, vác lúa mướn, lúc thì gác gian, cuối cùng là nghề đưa đò ngang bên Thủ Thiêm.
Thời trai tráng, cha tôi là một nghệ sĩ cổ nhạc. Ông chuyên về đờn cò theo một gánh hát quê lưu diễn khắp Lục Tỉnh Nam Kỳ. Lúc khán giả miền Tây già trẻ lớn bé nức lòng mến chuộng cải lương lại là lúc ông bầu gánh hát chẳng may bị lạc đạn của Tây, bèn rã gánh. Sầu đời, cha tôi lặn lội lên Sài Gòn tìm kế sinh nhai, rồi theo dân tứ xứ kéo qua Thủ Thiêm dựng làng lập ấp ven sông.
Thủ Thiêm xưa là vùng đất trũng, mọc đầy cây bàng và lác, lưu dân đến lập ấp nên gọi là ấp Cây Bàng cạnh bến đò Cây Bàng. Trải qua nhiều năm tháng lần hồi mới có mặt lũ trẻ chúng tôi. Thời đó, cuộc sống của cha tôi lúc bước chân ra khỏi cửa là chạm mưa, chạm nắng, đất bờ sông lúc nào cũng như nghiêng xuống, con đò thì chòng chành trước những xuồng máy đuôi tôm ngày càng nhiều. Nhất là thập niên 1960, con phà hình hột vịt do hãng đóng tàu Caric của Tây bên Thủ Thiêm hạ thủy là gây nhiều sự chú ý. Phà có hai từng, ngoài chở khách còn chở cả xe cộ qua lại trên sông. Nhiều đêm, thấy cha ngồi một mình lặng lẽ nhìn con phà dưới bến tôi thương ông vô hạn. Tôi có cảm tưởng như con phà vô tình át tiếng đò chèo của cha tôi, đẩy gia cảnh chúng tôi vào nơi chông chênh, khốn khó. Lạ một điều là trong mắt chúng tôi cuộc sống có vất vả, có mưa phơi nắng trải, dù mỏi mệt nhưng cha vẫn luôn gọn gàng, ngăn nắp, hòa nhã và đặc biệt rất nghệ sĩ. 
Nghèo xơ nghèo xác nhưng tấm lòng cha tôi lại giàu vô lượng. Dưới mái nhà tranh vách đất đơn sơ chật hẹp cạnh bờ sông, ông âm thầm nuôi bốn anh chị em chúng tôi cho tới ngày khôn lớn.
Tôi vẫn nhớ chị ba tôi thủ thỉ lúc tôi chập chững biết đi, vòi vĩnh mẹ thì cha ôm tôi vào lòng chỉ lên bàn thờ nói mẹ mất lâu rồi. Ngoài sự đùm bọc của cha,anh chị em tôi chưa từng biết mẹ chúng tôi là ai, không biết mẹ chúng tôi qua đời từ lúc nào, chỉ thấy bức di ảnh một người mẹ đã mờ nhạt lồng trong khung kính cũ kỹ đặt trên kệ thờ nhỏ rí ở góc nhà.
Rồi cái gì tới sẽ tới. Chờ đứa con út là tôi có đủ trí khôn cha mới cho chúng tôi biết sự thật. Một sự thật bất ngờ và vô cùng đau đớn mà lúc đó chúng tôi đều không tin vào tai mình. Cả bốn anh chị em tôi lần lượt bị đời vứt bỏ ở những bãi rác công cộng được cha thương tình đem về nuôi nấng. Sau giây phút ngỡ ngàng về sự thật hết sức đau lòng, không ai bảo ai, chúng tôi đều quỳ sụp xuống lạy tạ cha tôi và khóc. Đời tôi chưa bao giờ nghe mình khóc thương tâm đến như vậy. Mà có riêng gì tôi đâu, cả ba anh chị của tôi cũng nước mắt nước mũi ròng ròng, vật vã, xót thương. Cây lúa lớn lên từ đất, từ ơn mưa móc; còn chúng tôi lớn lên từ mồ hôi, nước mắt của cha tôi. Cứ vậy anh chị em chúng tôi nương tựa nhau dưới mái nhà nghèo khó, nhưng vô cùng hạnh phúc trong vòng tay ấm áp của người cha bồ tát. Khi nhận thấy chúng tôi đã cứng cáp trong đôi cánh bay, ông lần lượt dựng vợ gả chồng xong ông tung hếtlũ con ra ngoài đời. Riêng tôi lại hướng về ánh sáng của Phật đạo.
Ngày tháng tu tập ở chùa, tôi luôn luôn tưởng nhớ đến cha già, một người cha thường khiến cho bốn anh chị em chúng tôi đều hết lòng thờ phụng, kính yêu. Cha tôi, dù không phải là cha ruột, hình thành con người cho chúng tôi, nhưng cha là món quà vô giá mà Trời Phật đã ban ra để cứu vớt chúng tôi.
Ngày xa xưa cha tôi sớm cô quạnh một mình. Chúng tôi là những con chim non bất hạnh được cha lượm về dưỡng dục. Cho đến khi khôn lớn chúng tôi bay đi, cha tôi vẫn cô quạnh một mình.Và cha đã ở vậy cho đến cuối đời.      
                                                   * * *
Cha tôi, một người cha vỏ ngoài bình thường nhưng bên trong lại chứa đựng một trái tim bồ tát. Sống trong giáo pháp nhà Phật, tôi tin rằng cha tôi là một vị Bồ Tát hóa thân dưới một ẩn tướng để cứu độ lũ con bị đời ruồng bỏ.
Cha tôi họ Lý tên Đình. Trên tấm mộ chí đơn sơ của Cha tôi, ngoài tên họ Lý Bố Đình, phía dưới còn khắc thêm "pháp danh" thật nhỏ, thật khiêm nhường mà lúc còn tại thế Cha tôi chẳng hề hay biết:
 Bồ Tát Đình. 
PHAN NI TẤN

1416. DUYÊN Thoáng hương xưa

Tùng & Duyên - Photo by Phạm Cao Hoàng, Virginia, 6.2019

một thoáng hương xưa. sao nhớ quá
như thủa nào. đời. ngỡ giấc chiêm bao
có cha đọc báo, mẹ ngồi khâu
dõi mắt theo con, lo tương lai. tới
có anh em. lem luốc. quây quần
chiều về. vui, bên mâm cơm mới dọn…

Có nội ngồi chờ, tóc bạc phơ
bên đàn cháu thơ, cười hạnh phúc
căn nhà nhỏ. dưới tàn sao, cổ thụ
dòng sông êm ả, cuối con đường
ao muống sau nhà nở hoa trắng muốt
mùa nước nổi, thủa thanh bình. xa xưa, cũ
dế cơm kêu. ve sầu giữ nhịp. ca
mùa hè trong trí nhớ. rất xa…

bên gốc sao to, bạn nhỏ trốn tìm
cột đèn đêm, đứng yên như tượng
trăng sao sáng ngời giữ mộng mơ… trong
gió sông về, đuổi theo hoa sao. rụng
tìm. nhặt quả keo rơi. cuối đường, gió lộng
mong gió lên, keo rơi xuống thật nhiều
cơm keo trắng. ngọt. tuổi thơ thơm, ngày cũ
cám ơn trời. thổi gió. góp niềm vui.

bên góc phố quen. một mình, buổi sáng
hương xưa, chợt về. thoảng nhẹ, như mơ…

duyên
Ipenso coffee góc phố Bucktown, Chicago.