Friday, June 5, 2020

1612. MƯỜI TÁM TUỔI RA KHỎI NHÀ ĐI XA Truyện ngắn của nhà văn Trung Quốc DƯ HOA (1960 - …) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

Nhà văn Dư Hoa


Truyện ngắn " Thập bát tuế xuất môn viễn hành" giới thiệu dưới đây là một trong những truyện đầu tay của Dư Hoa, viết vào năm 1986, lúc tác giả, trải qua một tuổi thơ không mấy vui vẻ và sáng sủa thời cách mạng văn hoá, phải mày mò học đọc qua những Đại tự báo, chưa hiểu biết gì về văn chương, sáng tác. Tuy thế, truyện cũng được quan tâm và tán thưởng, nhờ bút pháp độc đáo, lối kể chuyện trộn lẫn hiện thực với khôi hài, qua những chi tiết lạ lùng đến bất ngờ, phi lý. Thành công bước đầu giúp Dư Hoa tự tin, quyết định theo học Viện Văn học Lỗ Tấn và tiếp tục sự nghiệp sáng tác, để trở thành một khuôn mặt sáng giá trên văn đàn Trung Quốc, nổi tiếng khắp thế giới.

Con đường rải nhựa liên tục lên cao xuống thấp tận ngút ngàn, chừng như được gắn lên trên đầu ngọn sóng. Trong vùng rừng núi này, đi bộ trên đường khiến tôi có cảm tưởng như đang ở trên con tàu. Năm đó tôi mười tám tuổi, vài sợi lông vàng từ râu cằm lay theo gió, tôi thấy quý lắm vì đó là những sợi đầu tiên. Tôi đã đi bộ trên con đường này suốt cả ngày rồi, nhìn thấy bao nhiêu là núi, bao nhiêu là mây, chúng gợi cho tôi nhớ lại những người thân quen nên tôi gọi chúng bằng biệt danh những người này. Nhờ thế mà đi cả ngày rồi nhưng tôi vẫn không thấy mệt. Tôi ra đi lúc sáng sớm, giờ đã cuối ngày, đã thấy những dấu hiệu đầu tiên của buổi hoàng hôn. Tôi chỉ mong thấy xuất hiện một cái quán thôi.

Trên đường đi tôi có gặp vài người, nhưng không ai biết có gì ở phía trước, có cái quán nào không. Ai cũng bảo tôi: " Đi rồi biết! " Tôi nghĩ là họ có lý cả thôi, đó cũng chính là điều tôi đang làm: tôi sẽ biết. Dù sao, tôi vẫn chưa thấy cái quán nào và bắt đầu lo.

Điều làm tôi ngạc nhiên là suốt cả ngày tôi chỉ bắt gặp một chiếc xe. Lúc đó gần giữa trưa, đúng vào lúc tôi có ý muốn nhờ quá giang, thời điểm mà tôi chưa cần tìm ra cái quán lắm, tôi chỉ nghĩ là đi quá giang thì tốt hơn. Tôi đứng ở phía thấp con đường và vẫy tay, cố làm mọi cách để tỏ ra ung dung thôi. Nhưng tài xế lại tỏ vẻ như không nhìn thấy tôi, và chiếc xe chết tiệt, cũng làm ngơ không để ý đến tôi như gã tài xế, phóng vụt qua như tia chớp. Và tôi cũng vụt chạy theo sau, cho vui thôi, vì thực ra tôi chưa bận tâm tới chuyện tìm cho ra cái quán lắm. Tôi cứ chạy theo như thế cho đến lúc chiếc xe khuất dạng, rồi thấy mình chạy kiểu đó tôi bật cười to, và nhận ra là tiếng cười làm tôi khó thở, tôi thôi không cười nữa và lại hăng hái tiếp tục con đường. Tuy thế, tự thâm tâm tôi lấy làm tiếc là không có một cục đá to trong bàn tay mà tôi đã ung dung vẫy.

Tới giờ này tôi thực sự mong đi nhờ xe vì chiều tối rồi mà chẳng thấy bóng dáng cái quán nào. Nhưng suốt buổi chẳng có chiếc xe nào khác xuất hiện. Nếu bây giờ mà có dịp nhờ quá giang xe, nhất thiết tôi phải chặn cho được. Có thể tôi sẽ nằm ra đường, sẽ có cơ may nghe tiếng xe thắng gấp khi tới gần tôi. Vậy mà giờ này không hề có tiếng động cơ nổ. Tôi chỉ còn có thể bước đi, chờ đợi chuyện rất đúng với câu nói: đi rồi biết.

Con đường vẫn lên cao xuống thấp, những điểm cao thu hút tôi, khích lệ tôi cố sức chạy thật nhanh để may ra lên đó sẽ nhìn thấy cái quán, nhưng mỗi lần như thế tôi chỉ nhìn thấy một vòng cung gây thất vọng, rồi lại một điểm cao khác nữa. Dù đã nhiều lần gắng sức chạy lên cao như thế, nhưng lúc nào cũng chẳng có kết quả gì. Lúc này, tôi tiếp tục rảo chân lần nữa, và lần này tôi nhìn thấy, không phải một cái quán, mà một chiếc xe tải. Từ trên cao, tôi thoáng thấy phía sau người tài xế. Không thể nhìn thấy đầu vì anh ta đang cúi gầm vào ca- pô xe mở nghiêng. Đằng sau xe tải chất cao những chiếc giỏ mây, hẳn là chứa đầy trái cây. Mà chắc là chuối. Tôi nghĩ là thế nào bên cạnh ghế tài xế cũng có, và ngồi vào đó rồi tôi có thể lấy ăn. Hẳn là xe đã dừng lại theo hướng hồi nãy tôi đến đây, mà tôi cũng chẳng cần biết hướng nào. Giờ này, tôi chỉ cần cái quán, mà không có quán thì tôi cần một chiếc xe, và xe ở kia rồi, trước mặt tôi.

Tôi phấn khởi chạy về phía tài xế và nói lớn: " Chào ông anh, khoẻ không? "

Hình như tài xế không nghe thấy gì, cứ tiếp tục lục lọi nơi động cơ xe.
" Mời ông anh điếu thuốc. "

Ngay lúc đó, tỏ vẻ cố hết sức, anh ta thò đầu ra ngoài ca- pô, chìa bàn tay đen như than và chụp lấy điếu thuốc. Tôi vội châm lửa cho anh ta, anh rít vội vài hơi, rồi ngậm điếu thuốc nơi môi, tiếp tục chúi đầu vào máy.

Tôi cảm thấy yên tâm, anh ta đã nhận điếu thuốc của tôi, chẳng lẽ lại không cho tôi lên xe. Tôi đi vòng quanh chiếc xe, cũng để xem thử có gì trong mấy cái giỏ đó. Không nhìn thấy được, đành phải nhờ đến lỗ mũi và nó mách bảo mùi táo. Tôi tự nhủ táo cũng được. Một lát sau, sửa xong, anh tài xế đóng nắp xe và nhảy xuống đất. Tôi vội chạy đến chỗ anh ta và lên tiếng: " Anh ạ, cho tôi xin quá giang." Trái với điều tôi tưởng tượng, anh ta đẩy tôi ra bằng bàn tay đen như than và cộc cằn nói: " Tránh ra!" Tôi sững sờ đứng im; anh ta bình thản mở cửa xe leo lên. Tôi nghe tiếng anh đang mở máy. Tôi hiểu rằng nếu bỏ lỡ cơ hội này thì sẽ không còn có dịp khác, vậy thì phải liều, một mất một còn thôi. Tôi chạy qua phía bên kia, mở cửa nhảy lên. Tôi sẵn sàng đánh nhau với anh ta ngay trong ca bin này, tuy thế, vừa leo lên tôi chỉ hét lớn: " Anh còn ngậm điếu thuốc của tôi mà! " Lúc này xe đã khởi động. Anh ta tỏ ra vui vẻ, nhìn tôi và phá lên cười; tôi chẳng hiểu ra sao cả. Tôi hỏi anh đi đâu. Anh ta đáp: " Tôi theo con đường này." rồi vẫn nhìn tôi và nói thân mật: " Muốn ăn táo không?" " Chẳng cần phải xin. Cứ việc lấy ở đằng sau."

Anh ta lái nhanh đến nỗi tôi không biết làm cách nào để rời khỏi ghế trước mà bước ra phía sau. Vậy nên tôi nói: " Thôi khỏi." Anh ta khẩn khoản: " Lấy một trái đi!"

Thấy anh ta cứ chăm chú nhìn mình, tôi nói: " Đừng nhìn tôi kiểu đó, bộ tôi vẽ đường đi trên mặt sao?"

Xe chạy theo hướng hồi nãy tôi tới. Ngồi thoải mái, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài và chuyện trò với anh tài xế. Bây giờ chúng tôi đã là đôi bạn tốt. Tôi biết là anh là một kiểu chuyên chở tư nhân. Xe này là của anh, mấy giỏ táo cũng vậy. Tôi nghe tiếng những đồng tiền kim khí trong túi anh. Tôi hỏi: " Anh đi tới đâu?" Anh đáp: " Tôi cứ lái và rồi sẽ biết."

Câu này giống như câu anh tôi nói, tôi cảm thấy một tình cảm thân thiện. Tôi nghĩ là điều đó làm chúng tôi gần nhau hơn. Còn cảnh vật đang lướt qua bên ngoài, chúng hoàn toàn quen thuộc với tôi; những ngọn núi đó, những đám mây đó gợi cho tôi nhớ những con người thân quen mà tôi đã gọi tên bằng những biệt danh. Tôi không bận tâm về cái quán nữa, trong chiếc xe tải, cạnh anh tài xế, ngồi êm trên ghế, tôi thấy thanh thản lắm rồi. Tôi không biết xe sẽ chạy tới đâu, mà anh lái xe cũng không biết. Dù sao, nơi đến có gì quan trọng đâu, chỉ cần là xe đang chạy, mọi chuyện khác, sẽ biết sau.

Nhưng chiếc xe lại hỏng máy lần nữa. Lúc này chúng tôi đã là đôi bạn thân thiết rồi. Tôi đặt tay lên vai anh ta, và anh cũng vậy. Anh đang kể tôi nghe những chuyện yêu đương của mình, kể đến chuyện lần đầu tiên hôn một bạn gái thì xe dừng lại đột ngột ngay trên dốc, chẳng nghe thấy tiếng động gì, kiểu như con mèo bị đột tử. Tài xế lết ra phía trước, mở nắp xe và lại chúi đầu vào bên trong. Tôi vẫn ngồi nơi ghế trước, biết thế nào rồi anh ta cũng nhổm mông lên, cái ca pô mở ra nên tôi không nhìn thấy gì. Tôi chỉ nghe tiếng động anh tài xế gây ra khi sửa xe.

Một lát sau, anh ta thò đầu lên rồi đóng nắp xe. Tay anh bây giờ còn đen hơn trước; anh chùi nhiều lần vào quần áo, rồi nhảy xuống đất. Tôi hỏi: " Thế nào? Sửa xong rồi à?" Anh nói: " Xong rồi, nhưng sửa không được."

Tôi nghĩ thế là hết rồi và hỏi: " Bây giờ ta làm sao đây?" Anh lơ đãng đáp: " Để xem."

Tôi vẫn ngồi trong xe, không biết phải làm gì. Tôi lại nghĩ đến cái quán. Vào giờ này, mặt trời bắt đầu lặn, những ánh sáng đỏ rực xuất hiện phía chân trời, thoáng chút hơi nước vụt bay lên. Trong tâm trí tôi hình ảnh cái quán lại hiện ra, ngày càng rõ rệt hơn. Anh tài xế ra đứng ngay giữa đường, làm vài động tác thể dục theo  các bài hướng dẫn trên đài phát thanh, có vẻ chăm chú lắm. Tập xong, anh bắt đầu chạy từng bước nhỏ quanh chiếc xe. Có thể vì anh ngồi quá lâu trong xe để lái nên cần tập luyện như thế. Nhìn anh ta tập tôi cũng có ý muốn bước ra ngoài. Tôi mở cửa xe và nhảy xuống. Nhưng tôi không muốn làm động tác thể dục, cũng không chạy, đầu óc chỉ nghĩ đến cái quán thôi.

Ngay lúc đó, tôi nhìn thấy có năm người đạp xe đổ xuống từ trên dốc. Phía sau mỗi xe đạp có chiếc đòn gánh gác ngang, hai bên là hai giỏ mây thiệt to. Tôi đoán họ là những nông dân ở gần đây, đi bán rau cải về. Thấy họ đến tôi vui lắm nên vội đến gần và nói lớn: " Chào mọi người!"

Tới trước mặt tôi, họ xuống xe, tôi vui vẻ chào: " Có cái quán nào gần đây không vậy?". Họ không trả lời mà hỏi lại tôi: " Xe chở gì trong đó? "

Tôi đáp: " Táo." Vừa đẩy xe, cả bọn vừa tiến tới gần xe tải, hai người trong nhóm lẻn vào bên trong xe,  lật nghiêng những giỏ táo, ba người đứng dưới mở nắp đậy cho táo rớt ra. Tôi ngạc nhiên không hiểu chuyện gì xảy ra. Định thần lại, tôi đến gần hỏi: " Các người đang làm cái gì vậy?" Họ làm như không có tôi ở đó và tiếp tục đổ táo xuống khỏi xe tải. Tôi đến sát bên họ, cầm lấy tay một người và hét lớn: " Có người trộm táo đấy!" Một cú đấm dữ dội bay thẳng vào mũi tôi, đẩy tôi ra xa mấy thước. Tôi bò dậy, đưa tay sờ mũi, thấy nó bẹp dí, có vẻ như không gắn vào mặt và bị treo ở đó. Từ vết thương máu chảy ra như nước mắt. Tuy nhiên, khi tôi nhận rõ cái gã đã tấn công tôi thì cả bọn đã leo lên xe đạp bỏ đi. Còn anh tài xế thì đang bước chậm rãi, môi trề ra, thở hổn hển, có lẽ vì chạy mệt. Hình như anh không hề biết việc xảy ra. Tôi nói lớn: " Có người ăn trộm táo của anh đấy!" Nhưng anh ta chẳng quan tâm tới điều tôi nói mà cứ tiếp tục thong thả chạy. Thực tình tôi muốn đấm vào mặt anh ta, để anh cũng có cái mũi bị thương tích vậy. Tôi chạy đến hét vào tai anh: " Có người trộm táo đấy!" Đến lúc này anh ta mới quay lại nhìn tôi. Tôi nhận thấy mặt anh có vẻ mỗi lúc một rạng rỡ, hình như bây giờ anh ta mới nhìn cái mũi của tôi.

Đúng vào lúc này, một nhóm người đạp xe từ trên dốc xuống, sau mỗi xe cũng có hai giỏ lớn, trong nhóm có cả trẻ con. Như một bầy ong, cả bọn vây quanh xe tải. Vài người nhảy vào trong xe, rồi lần lượt ném mấy chiếc giỏ trên đó xuống đất, táo đổ ào xuống như máu trên mũi tôi, cả bọn cuống cuồng chất vào giỏ của mình như một lũ điên. Trong một loáng, toàn bộ táo trên xe đều đổ xuống đất. Khi đó, từ trên dốc lại có mấy chiếc xe kéo xuất hiện và chạy ào đến trong tiếng inh ỏi của động cơ. Các xe kéo dừng lại cạnh chiếc xe tải, mấy gã đàn ông nhảy xuống hốt táo đổ vào xe, các giỏ táo trên xe tải không còn một trái bị vứt bừa bãi ngay lúc đó. Một ít táo rơi vãi ra đất, chúng ngồi xổm xuống nhặt hết.

Chẳng chút e dè, tôi chạy đến bọn này, lớn tiếng nguyền rủa: " Quân ăn trộm!" Tôi nhận ngay những cú đánh đấm hầu như cùng một lúc. Chúng không chừa bộ phận nào trên cơ thể tôi. Tôi bò ra đất trong khi bị mấy đứa nhỏ ném táo vào người, táo nát cả ra trên đầu tôi. Tôi định nhào đến đánh lại mấy đứa này thì lãnh ngay một cú đá ngay sườn. Tôi muốn kêu lên nhưng không còn hơi sức nào. Tôi đổ sụp xuống không còn bò được nữa, chỉ biết nhìn táo bay tới tấp. Tôi đưa mắt tìm anh tài xế, anh chàng đứng tách ra và nhìn tôi cười rũ rượi, tôi hiểu là khi này thân thể tôi còn đẹp hơn cái mũi lúc nãy.

Cơn giận của tôi bỗng chùng xuống. Tôi chẳng màng đến nguyên nhân tại sao. Nhưng điều làm tôi nổi giận nhất là anh chàng tài xế.

Từ trên dốc cao, xe kéo xe đạp lại tiếp tục đổ xuống, dồn vào nơi vừa diễn ra cuộc tàn sát. Tôi thấy được rằng dưới đất lúc này càng ngày táo càng ít đi, và vài đứa trong bọn bỏ đi thì đứa khác lại tới. Những tên đến sau cùng leo lên lục lọi trên xe tải, tôi thấy chúng gỡ cửa kính, tháo bánh xe, phá những ván gỗ. Không còn bánh, chiếc xe tải trông thảm hại, đầu cúi gầm, lún xuống mặt đất. Có mấy đứa trẻ đến nhặt những chiếc giỏ bị vứt ra. Mặt đất sạch sẽ hơn, người thưa dần đi. Giờ này tôi chỉ còn biết quan sát, không thấy tức giận nữa. Tôi ngồi bệt xuống đất, bất động, chỉ còn biết nhìn. Bây giờ trống trải cả rồi, chỉ còn lại một chiếc xe kéo dừng lại cạnh bên xe tải nằm bẹp. Có mấy người đứng nhìn quanh quất, xem thử còn gì  mang đi nữa không. Cuối cùng, chúng leo lên xe kéo và cho xe chạy. Tôi thấy anh tài xế cùng lên xe với bọn kia, sau khi ngồi yên suốt thời gian xe tải bị trộm, rồi nhìn tôi phá lên cười. Tôi nhìn thấy anh ta cầm cái gì đó trong tay: thì ra hắn đã cướp chiếc túi xách của tôi. Trong cái túi là áo quần, tiền bạc, có cả thực phẩm và mấy cuốn sách. Hắn đã lấy mang đi. Tôi thấy chiếc xe kéo leo lên dốc, rồi khuất dạng, nhưng tôi vẫn còn nghe tiếng động cơ. Rồi một lát sau cũng không nghe thấy nữa. Bất chợt, hoàn toàn yên ắng, và trời bắt đầu tối. Tôi vẫn ngồi dưới đất, đói và lạnh, nhưng giờ này tôi không còn gì nữa cả. Tôi ngồi yên như thế thật lâu, rồi bắt đầu bò chầm chậm, khó nhọc, vì mỗi động tác khiến tôi đau dữ dội khắp cơ thể, nhưng rồi tôi cũng bò được. Cuối cùng tôi cũng bò tới chiếc xe tải. Xe trông thật thảm hại, bẹp lún xuống, đâu cũng có vết bầm, tôi tự nhủ, chính tôi cũng có vết bầm đầy người đây thôi.

Tôi mở cửa xe chui vào. Ghế ngồi chưa bị tháo, may cho tôi. Tôi nằm duỗi dài trên khoang xe phía trước. Nghe có mùi xăng chảy, như mùi máu từ cơ thể tôi chảy ra. Bên ngoài, gió càng lúc càng thổi mạnh, nhưng, nằm dài trên ghế, tôi cảm thấy ấm. Tôi hình dung là chiếc xe dù đầy vết bầm tím nhưng bên trong không có thương tích mà có hơi ấm, và tôi cảm thấy trong tôi cũng có hơi ấm như vậy. Tôi đã bỏ công đi tìm một cái quán, mà không hề nghĩ rằng, xét cho cùng, cái quán là nơi đây rồi. Tôi đang nằm trong lòng xe tải, với cảm tưởng đang tắm ánh nắng ban trưa, vào một ngày sáng sủa, không gợn mây, dưới ánh mặt trời êm dịu.

Tôi hồi tưởng là mình đã trải qua nhiều thời gian vui chơi ở ngoài, thật hạnh phúc, rồi, lúc về nhà, thấy ba tôi bên cạnh cửa sổ đang chuẩn bị chiếc túi xách màu đỏ. Tôi chạy đến cửa sổ hỏi: " Ba định đi xa sao?"

Ba tôi quay lại trả lời: " Không phải ba, mà con mới là người ba muốn sẽ ra đi."
" Ba muốn con đi à?" - " Đúng vậy, con đã mười tám tuổi rồi, con phải đi để biết thế giới bên ngoài ra sao." Thế là tôi đã khoác chiếc túi đỏ xinh đẹp đó lên vai, ba tôi vỗ nhẹ sau đầu tôi, kiểu như người ta vỗ sau mông con ngựa. Và tôi sung sướng rời khỏi nhà, như một con ngựa khoan khoái phóng nước đại.
  
( Theo bản tiếng Pháp của Brigitte Duzan )
Nguồn : chinese-shortstories.com 
THÂN TRỌNG SƠN 
dịch và giới thiệu.

1611. DUYÊN Hồng Ân mầu nhiệm…



DUYÊN
Hồng Ân mầu nhiệm…



Đã qua giữa tháng năm, sao trời còn lạnh quá, không lẽ trời lạnh hoài... suốt “tháng năm”?

Những chậu hoa mua về từ cửa hàng grocery cả tháng nay (mời gọi sắc mầu rực rỡ mùa hè) vẫn yên nằm trong nhà chưa được trồng xuống vườn, đang ủ ê. buồn. héo úa...

Tôi ở nhà may những chiếc mặt nạ xinh xinh, chắp nối từ những miếng vải vụn, may pj cho các cháu khi xưa còn bé, may mắn còn sót lại chút ít trong ngăn tủ phòng may (lúc shelter in place mới ban hành, tôi không mua được vải và vật liệu may vá). Kim chỉ bỏ quên lâu ngày, nay có dịp thức dậy siêng năng làm việc, chuyện trò cùng tôi...như khuôn mặt thân yêu của từng người tôi đang nhớ...thỉnh thoảng tôi nghĩ đến mẹ, lo không biết bà ra sao? Chợt giật mình nhớ ra, mẹ không còn trên cõi đời này nữa, chả cần chiếc mặt nạ tôi đang khâu. mẹ không còn phải lo lắng, bồn chồn về một sợ hãi mông lung đang trùm kín loài người. mẹ đang bềnh bồng trên tầng mây cao, xa lắm...mẹ vẫn bảo bọc tôi, tia mắt ân cần...

Qua cửa sổ phòng ăn, ba cây hoa đào nở rộ, một màu hồng thật đẹp, cây dogwood trước nhà, bên cửa sổ, nơi con chim mầu đỏ gạch về đậu trên cành. mỗi bình minh...ca hót. gọi tôi bước vào ngày mới. Giọng líu lo. chuyên cần. thúc hối...tôi đây em, đừng lo cho tôi nhé, tôi sẽ coố giữ gìn sức khỏe, tôi đây rồi mà, em hãy bay đi...gọi dùm tôi những người thân yêu nhé. lay động thế giới ngoài kia. tỉnh thức: hãy gần gũi hơn dù đang bị chia xa, hãy thương yêu hơn. khi còn. có thể. ôm nhau bằng một vòng ôm không, nhưng tròn vạnh nghĩa tình...để cho người. dù không may mắn, chưa hề cô đơn khi một mình đi trên con đường chông gai đó. còn săn sóc siết tay của các chiến sĩ tuyến đầu, người dù cô lập trên giường bệnh. hay trong chiếc quan tài buồn. lẳng lặng. tự thiêu...niềm cô đơn. xin đừng bao giờ có...

Vườn trước nhà, nhiều cây âm thầm đơm nụ, âm thầm nở hoa, tôi nào biết...khi tiếng nói cười trong sân, những ngày xa xưa cũ...biến đâu rồi?

Tôi vẫn ở nhà mấy tháng nay, ngoại trừ những lúc phải ra ngoài mua thức ăn hoa quả, rau, thịt cá cho cả tuần hay ra bưu điện gửi thơ cho gia đình và bạn...

Tôi vẫn ở yên trong nhà từ độ tháng ba, buồn phiền lo sợ giờ mỏng đi theo ngày tháng...đã hơn hai tháng rồi, chấp nhận mà sống. Tôi thiền hành, tịnh tâm qua mũi kim, sợi chỉ. Tôi khâu vá yêu thương. Tôi khâu vá tôi. Ghép những những mảnh vải vụn thành trái tim, xỏ thành chuỗi, tôi đeo...

Một đêm bên chiếc máy may. đêm rất khuya...trên youtube tôi đang nghe kinh Phật, bỗng tiếng hát của một bài thánh ca nổi lên, tôi như người tỉnh giấc: xâu chuỗi tôi đang đeo đứt tung, từng “hạt tim”rơi trên mặt bàn kính. lanh canh tiếng hạt trai, hạt pha lê chạm nhau tạo thành thanh âm, nhạc tuyệt vời. trước mắt tôi một sân khấu sáng ngời...những trái tim nhảy múa điệu luân vũ đẹp nhất. khán giả đang chìm trong bóng tối, yên lặng hướng về sân khấu. người mục sư da đen cất tiếng hát...nguyện cầu:

Amazing Grace, how sweet the sound
That saved a wretch like me
I once was lost, but now am found
Was blind but now I see... *

đã cùng khổ, thêm mù loà
một lần tôi lạc bước...
tìm ra tôi, hồng ân ngọt ngào chỉ lối,
trước mù loà, giờ tôi đã thấy…**

duyên
  
* Amazing Grace, bài thánh ca.

** lời phỏng dịch Amazing Grace của tác giả.

Nghe bài hát Amazing Grace:
https://www.youtube.com/watch?v=HsCp5LG_zNE



Thursday, June 4, 2020

1610. PHẠM CAO HOÀNG Chiều đi ngang qua thung lũng Fox

Chiều đi ngang qua Thung Lũng Fox
Photo by PCH, Fox Valley, 6.6.2017

Cho Hoa, sinh nhật em

một hôm mây trắng tôi về
qua thung lũng Fox lòng nghe ngậm ngùi
nhớ Đà Lạt quá, em ơi!
và mây trắng với những đồi thông xưa
chờ nhau, mấy giọt cà phê
nhìn nhau, một nụ hôn vừa trao nhau
bây giờ, bốn mươi năm sau
tôi về, mây trắng trên đầu bay ngang
vẫn cùng em đi lang thang
vẫn yêu em đến vô vàn, biết không?
vẫn yêu Đà Lạt vô cùng

PHẠM CAO HOÀNG
Virginia, June, 2017

Và mây trắng với những đồi thông xưa, Photo by PCH, Đà Lạt, 28.8.2016

Tuesday, June 2, 2020

1609. HÒA BÌNH LÊ: RADIO MÙA HÈ Thơ PHAN NHIÊN HẠO



Trưa thứ Bảy mở thùng thơ, cuốn Radio Mùa Hè, thơ Phan Hiện Hạo, đến đúng lúc tôi đang suy nghĩ ngày mai sẽ đọc gì. Thú thật là bìa và tựa sách đã thấy qua đâu đó có lúc khiến tôi tò mò chú ý, có lẽ vì mình đã đọc và quen thuộc với lối “phát sóng” trên băng tầng này, cũng có lẽ mùa cách ly, con người thèm phiêu lưu đến những vùng miền nhiễu âm.

“Te te... tò tí te...
Good morning, anh chị em thủng nhĩ.
Đây là tiếng nói cô đơn,
Phát thanh từ nước Mỹ,
Giữa đồng bắp miền Trung Tây,
Trên băng tầng lưu vong không hối tiếc.”

Tôi ngừng đọc. Lắng nghe. Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng.  Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe.  Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng:

 Hôm nay trời cứng
Sẽ ngỏng đến 37 độ C
Không mưa và ngột ngạt áp thấp
Vì những chuyện điên ở phía Đông.

Để cứu đứa con mình,
một người mẹ tự sát.
Hai người đàn bà truồng
Ôm ghì lấy thân thể đất đai.
Đám đông căng biểu ngữ trên cầu,
Tìm cách cứu dòng sông
nhưng  bị đạp xuống nước.

Lời tường thuật dửng dưng ngắt quãng khiến người đọc không thể không liên tưởng đến cái mặt trái phi lý của sự việc, những mâu thuẫn, mối liên hệ được mất, ý chí và sự đầu hàng của con người, dù trong vô thức hay ý thức.  Lưu ý cụm từ “trời cứng sẽ ngỏng,” thủ thuật “incongruous juxtaposition” trong thi ca chăng, nhưng hiệu ứng của nó là cái hài, không phải cái hài dùng để chọc cười vô tội vạ, mà để nói lên tính mâu thuẫn của đối tượng, một đối tượng chẳng có gì đáng cười.

Phía Tây vẫn bình thường:
Làm việc, ăn ít mỡ, lái xe
Qua những đường lòng vòng,
Đèn đỏ giúp quá trình rã tan chậm lại.
Cuộc đời là tảng băng,
Hao nhanh hơn ngày nắng.

Âm thanh tự lúc nào đã bắt sang hình ảnh chuyển động. Không thể chỉ lắng nghe nữa, mà phải nhìn, phải thấy. Cái mà chúng ta say mê gọi là cuộc đời, đi qua những  nẻo đường lòng vòng,  chậm lại,  ít nhiều, dài ngắn, trở về thực chất, một “quá trình rã tan”. Mới nghe như cụt ngủn, nhưng chỉ là bắt đầu, ngày nắng hao đi chính là lúc thơ xuất hiện, một cuộc đối thoại, ở đó mọc lên những chuỗi dài hình ảnh của một thế giới tư tưởng.

Qua những trang thơ, người đọc có thể tìm thấy khung cảnh, trạng thái, âm hưởng, tính chất, thời khắc, bằng thứ ngôn ngữ không thỏa hiệp, thậm chí hằn học, kinh tởm: 

“Đây là thời chủ nhân ăn mày ăn nhặt
trong khi đầy tớ nhân dân ăn ngập mặt, ngập mũi
ăn hớt, ăn bẩn, ăn tục, ăn lận, ăn chặn, ăn cướp, ăn gian,
ăn tham, ăn lường, ăn bịp, ăn suông, ăn ké, ăn chia, ăn sống
ăn lạnh, ăn nóng, ăn theo, ăn chực, ăn vạ, ăn lẻ, ăn
ăn tất tần tật
chỉ trừ ăn năn
ăn không sợ trả miếng.”

Nhưng giữa cái thời đại của “người sống ở nghĩa trang và người chết ngồi ở nhà hàng” này, con người vẫn “như bông hoa, tiếng mõ chiều”, vẫn “sống qua những thời khắc bị đầu độc / đến nỗi tình thương cũng gây dị ứng buồn.” , sống trong một “đất nước bụng trương”, một “thời đại bùn lầy / muốn làm người chúng ta phải ra đi.”


Dọc ngang suốt những trang sách là tâm trạng của kẻ phải bỏ nhà ra đi, lưu vong xứ lạ, những người dù “ăn mặc chải chuốt nhưng đứng ngồi lố nhố”, những người đang “ngậm ngùi một quê hương đã mất”:

“Hoang mang và phấn khích
Chúng ta đặt chân lên miền đất lạ
Không khí lạ, nhà cửa lạ, tiếng nói lạ,
Cầu tiêu lạ, người ta lạ,
mình là người lạ.”

Cầu tiêu lạ? Vâng, chữ nghĩa đôi khi như muốn gây sốc, nhưng thật đắt, và thi ca đã được dùng như con dao sắc rọc thủng bức màn hiện sinh cho ta thấy cái ẩn mật bên trong.

Phan Nhiên Hạo cũng nói đến những thay đổi, khó khăn, gầy dựng, giữa những ám ảnh và mất mát, trong hoài niệm về sự khốn cùng, bài ca của ý chí, hy vọng và tình yêu vang cao xa, những điều tuy cũ kỹ muôn đời nhưng luôn luôn nằm trong tâm thức kẻ khao khát sống. Sống như một con người:

“Chúng ta đến xứ sở này xa lạ
ra đi chưa hết lạ
nhưng không bao giờ thôi yêu mến
mặt hồ đại dương
căn nhà chở che hạnh phúc
lối mòn nhỏ ven rừng con ta bước tiên khởi tự do.
Đây là nơi chúng ta hàn gắn mình
Như thợ giày khâu vết thương há miệng
Sau đường dài ngập máu
sau đường dài ngập phân
sau chợ chiều cân xác chết chiến tranh
một triệu tiếng chuông không mua hết oan hồn.
Đây là nơi chúng ta sống đàng hoàng
và chết vào buổi chiều có cánh
bay về một xứ sở đã xa.

Địa lý của chúng ta ở giữa những kinh tuyến của u hoài
và triển vọng
lịch sử của chúng ta như mặt trống
đau đớn và âm vang
không bao giờ im lặng
không bao giờ sơn phết
không bao giờ lãng quên.”

Đọc Phan Nhiên Hạo, người đọc không cần phải thứ tự, có thể đọc bài chính giữa, trở lại bài đầu, lật bài sang trang, xuyên suốt những trang sách, người đọc có thể nhận thấy những nụ cười nhạt chen giữa sự nghiêm túc, thành thật. Thơ gọn, mực thước, cô đọng, không cần nhiều lời trữ tình, không ướt, nhưng đậm đặc thanh âm và hình tượng. Thơ anh thoát ra khỏi cái “khẩu khí” hư ngụy, từ chương, giả trá vốn trì kéo thơ ca Việt Nam từ trung đại cho đến hiện đại. Và, không thể bỏ qua tính hài, mà ở đây, phải được hiểu là tính mâu thuẫn của sự vật được nhìn qua lăng kính thi ca:

“Nhìn xuống quá nhiều cầu tiêu mỗi ngày
sau cùng bạn thấy như loa
lải nhải bài ca bốc mùi
về sự khốn cùng và hy vọng.”

Đọc Phan Nhiên Hạo đến bài thứ tư, thứ năm, người ta sẽ nhận ra sự thú vị bất ngờ. Thơ anh không làm cho người đọc ủy mị, mơ mộng, ngược lại, thơ anh khiến người đọc thấy mình sáng suốt, tỉnh táo, như người lái xe vừa qua khỏi một khúc đường quanh co sương mù, những điều thường lệ bấy lâu khuất mắt bỗng hiển hình rõ nét, chân thể như bản chất nguyên thủy chính nó. Như bài “cá trong giếng”:

“Khi con nhỏ em họ tôi
câu cá rô, chiên giòn
còn vài con thả giếng,
nước đục và không sâu
nó nói: “Đây là những con cá may mắn.”

Nhưng mỗi ngày
Hàng chục lần gàu sắt
giáng xuống,
tôi biết đây là địa ngục trần gian
của những kẻ sống sót.”

Đọc thơ Phan Nhiên Hạo, tôi nhận ra mình, tôi gặp lại quê hương của tôi, thành phố của bạn bè tôi, nghe được tiếng “trời mưa từ sáng đến chiều”. Thơ anh mang thông điệp của một người đã qua bên kia bờ dòng sông, vẫn ngụp lặn tìm, những buổi sáng tỉnh dậy ở bên này, lồng ngực vẫn đầy những xáo động từ giấc mơ đêm qua bên kia. Thơ anh đưa tôi trở về những ngày còn ở lại, những buổi sáng bị cổ động tập trung ở quảng trường tập thể dục buổi sáng, nơi “Âm nhạc trở nên nhọn như tên / mỗi ngày bắn ra từ loa sắt ; xuống những mái nhà, đường phố, cỏ cây, đồng ruộng / đình chùa, bữa ăn, giấc ngủ / khoảnh khắc yêu nhau vợ chồng ọp ẹp / giây phút linh thiêng kẻ sắp lìa đời.”

Đọc Phan Nhiên Hạo để nhớ về một quê hương có những trang sử cần được viết lại từ những người sống và chứng kiến ngày “Xe tăng T54 thủ dâm trước dinh Độc Lập / thụt thụt nhiều lần lên thảm cỏ xanh / sướng ngất trong cơn co giật / sốt rét.” Đọc Phan Nhiên Hạo cũng để quên đi hướng tới “Nhìn con cái mình lớn lên / chúng ta bồi hồi tương lai giống Tiên Rồng khỏe mạnh / nở trứng xứ người / và ngậm ngùi một quê hương đã mất. Những con đường đã mất, xe đạp xanh đã mất / mùa hè hoa phượng đỏ Komtum đã mất / sông đã mất rồi biển sẽ mất.”

Đọc thơ anh để thấy chặng đường dài thế hệ chúng tôi đã đi qua tuy không hiển vinh, nhưng đầy rãy những thời khắc miệng ngậm mắt thao láo. Và từ những kinh nghiệm tan tác, mất còn,  người ra đi bắt đầu lại từ đầu trên quê hương xa lạ: “nơi chúng ta thấy thế giới lần đầu”. Và chúng ta ai cũng có thể cảm nhận được những lúc “trải qua nhiều giờ khắc suy nghĩ về số phận / vặn đồng hồ báo thức, nhìn ngắm bức ảnh cũ, rồi đi ngủ / bao giờ cũng nhét cuốn từ điển dưới gối / phòng trường hợp gặp người lạ trong giấc mơ.”

Tôi đọc Phan Nhiên Hạo đến đoạn “Nguyễn Tuân nói: “tôi còn sống đến hôm nay / Nhờ biết sợ”,  con chuột nói: “tôi ăn no / vì biết tôn kính mèo.” Đặng Tiểu Bình nói: / “mèo đen mèo trắng, no problem, miễn bắt được chuột”,  tôi không thể không liên tưởng đến thời đại của chúng ta, mới thứ Sáu vừa qua,  Facebook CEO Mark Zuckerberg, sau 16 giờ im lặng kể từ khi Twitter lên tiếng đã nói: “Tôi hiểu rất nhiều người giận giữ vì chúng tôi đã giữ y nguyên những lời đăng tải của Tổng Thống, nhưng chúng không vi phạm gì...”

Tôi đọc Phan Nhiên Hạo, thấy như mình vừa đang trở về vừa đang bước tới:

Em thân yêu
hãy tin tôi
Sẽ đến ngày cánh rừng không còn cây để cháy
cha mẹ chúng ta trở về cánh đồng
đàn bà & vịt gà & ước vọng mây bay
từ trên đồi cao em sẽ thấy xứ sở này
nhỏ hẹp, mặn chat, rất gần mặt trăng
giống hệt con tàu hỏa
cũ kỹ và luôn trật đường ray
sau cùng sẽ đi hết đường xích đạo
qua những thế kỷ lầm lạc, đẫm máu
đến ga cuối cùng, chúng ta sẽ hiểu nhau.”

Hôm nay, thế giới và đất nước nơi cưu mang tôi đang bốc cháy, tôi cảm ơn “Radio Mùa Hè” đã phát ra những âm thanh ở tần số mà tôi có thể bắt được và cho tôi một góc trú ẩn trong đó. Xin trân trọng biết ơn và xin giới thiệu sách quý.

Hòa Bình Lê
30 tháng 5, 2020

Sơ lược về tác giả: Phan Nhiên Hạo sinh năm 1967 tại Kon Tum. Cha anh là một sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Phan Nhiên Hạo tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ngành văn chương tại Sài Gòn năm 1989 và sang Mỹ năm 1991. Tại Mỹ, Phan Nhiên Hạo học cử nhân văn chương Anh- Mỹ (1998) và cao học thư viện (2000) tại đại học UCLA. Anh cũng có bằng cao học nhân chủng học văn hóa (2011) từ đại học Illinois. Hiện anh làm việc cho một thư viện đại học tại Illinois. Phan Nhiên Hạo đã xuất bản ba tập thơ: Thiên Đường Chuông Giấy (1996), Chế Tạo Thơ Ca 99-04 (2004), Radio Mùa Hè l(2019). Anh cũng là tác giả hai tuyển tập thơ được dịch sang tiếng Anh: Night, Fish, and Charlie Parker (2005), Paper Bells (2020). Phan Nhiên Hạo hiện chủ trương tạp chí điện tử văn học litviet (litviet.org), nơi có đăng lại nhiều sáng tác của anh. Độc giả có thể tìm mua tập thơ Radio Mùa Hè trên Amazon, https://www.amazon.com/Radio-M%C3%B9a-Vietnamese-Nhien-Phan/dp/1927781787.


Monday, June 1, 2020

1608. TRIỆU ĐÓA HOA HỒNG Russian version Songwriter; RAIMONDS PAULS (Người Latvia) Ukrainian singer: INA LORAK



TRIỆU ĐÓA
HOA HỒNG
Russian version
Songwriter; RAIMONDS PAULS  (Người Latvia)
  Ukrainian singer:        INA LORAK 
Bấm vào ảnh dưới đây để nghe/xem: