Saturday, January 27, 2018

377. THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu: KỴ SĨ TRÊN BẦU TRỜI Truyện ngắn của nhà văn Hoa Kỳ AMBROSE BIERCE (1842-1914



Ambrose Bierce sinh năm 1842 tại Ohio, là con thứ 10 trong một gia đình có tới 13 người con. Lúc ông còn nhỏ, gia đình chuyển đến Warsaw, rồi Elkhant, Indiana. Cha mẹ ông không giàu có gì nhưng rất ham mê văn chương, và ảnh hưởng giáo dục quan trọng nhất

Ambrose Bierce thu nhận là từ tủ sách trong nông trại của gia đình.

Năm 17 tuổi, ông vào học ở Học viện Quân sự Kentucky, sớm hoà nhập với lối sống và kỷ luật quân đội. Khi sắp xảy ra Nội chiến Hoa Kỳ, ông rời học viện và trở về Indiana (1860).

Ông gia nhập quân đội ngay sau khi Tổng thống Lincoln kêu gọi 75000 quân tình nguyện, và trực tiếp chiến đấu tại nhiều mặt trận. Với quân hàm trung uý, ông phục vụ trong bộ chỉ huy của tướng W.B. Hazen, với tư cách kỹ sư địa hình, nghiên cứu địa hình và chuẩn bị bản đồ hành quân. Tháng 6/1864 ông bị thương và năm sau thì giải ngũ.

Trở lại đời sống dân sự, ông bắt đầu theo đuổi niềm đam mê viết lách thời trẻ bằng việc viết báo, ban đầu là những tiểu luận và chuyện phiếm. Ít lâu sau, ông tham gia ban biên tập tạp chí News-Letters, có cơ hội gặp và làm quen với nhiều nhà báo, nhà văn nổi tiếng, trong đó có Mark Twain.

Cuối thập niên 1880, ông chuyển dần sang viết truyện ngắn và công bố tác phẩm đầu tiên The Haunted Valley ( Thung lũng bị ma ám ) trên tờ Overland Monthly.

Năm 1872, ông thôi làm ở tờ News-Letters rồi cùng vợ sang Anh quốc sinh sống. Nơi đây, ông tiếp tục sáng tác và thử nghiệm thể loại văn châm biếm. Vào cuối những năm 1880, ông quay về San Francisco, bắt đầu viết cuốn The Devil’s Dictionary, kiểu như “ từ điển tra ngược “, cho những định nghĩa lạ và vui. Cũng thời gian này, ông tập trung viết về đề tài cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.

Năm 1888, hai vợ chồng ông ly dị. Năm sau con trai 18 tuổi của ông chết. Những chuyện buồn này, tuy thế, không ngăn cản mạch sáng tác của ông. Ông xuất bản tác phẩm quan trọng Tales of Soldiers and Civilians ( Truyện kể về người lính và thường dân ), là tuyển tập những truyện ngắn về đề tài chiến tranh, có tiếng vang lớn trên văn đàn.

Mùa thu năm 1913, ông đi thăm lại những chiến trường ngày trước đã tham gia. Ông đi qua biên giới nước Mexico, trong bức thư gửi từ Chihuahua đề ngày 26/12 năm đó, ông kết thúc với dòng chữ: “ Về phần tôi, ngày mai tôi sẽ rời nơi đây để đi tới một nơi chưa biết. “ Và sau đó ông biến mất. Có nhiều tin đồn, nhiều giả thuyết khác nhau về cái chết của ông, nhưng đến nay không có thông tin chính xác và rõ ràng về những ngày cuối cùng của con người bí ẩn này.

Vừa là nhà báo, vừa là nhà văn, Ambrose Bierce sáng tác nhiều thể loại, tiểu luận, châm biếm, thơ, và nổi tiếng hơn cả với truyện ngắn. Hai mảng đề tài lớn trong truyện ngắn Ambrose Bierce là chiến tranh và truyện kinh dị.

Ambrose Bierce, Nthânhà văn Hoa Kỳ (1842-1914)

 I.   
Vào một buổi chiều đầy nắng mùa thu năm 1861, một người lính đang nằm trong bụi cây nguyệt quế bên cạnh một con đường ở miền Tây Virginia. Anh nằm sấp, chân duỗi thẳng, ngón chân chạm đất, đầu gối lên cánh tay trái. Tay phải anh dang ra nắm hờ lấy khẩu súng trường. Nhưng với tư thế nằm khá ngay ngắn và chuyển động nhịp nhàng lên xuống của hộp đạn trên chiếc dây đeo, có thể tưởng lầm rằng anh đã chết. Thật ra, anh chỉ ngủ thiếp đi khi đang làm nhiệm vụ. Nếu bị phát hiện, anh cũng sẽ chết sớm thôi, cái chết là hình phạt chính đáng và đúng luật dành cho tội trạng của anh.

Bụi cây nguyệt quế nơi người phạm tội kia đang ngủ nằm trên một góc quẹo con đường, từ đây đi tiếp về hướng nam, một con dốc thẳng đứng, rẽ ngoặt sang phía tây, chạy men theo đỉnh núi khoảng 100 thước Anh (1). Sau đó, nó lại rẽ về phía nam và đi xuống theo hình chữ chi xuyên qua khu rừng. Ở chỗ lồi ra của khúc cua thứ hai đó là một tảng đá phẳng lớn, nhô ra ngoài theo hướng bắc, nhìn xuống thung lũng sâu, nơi xuất phát của con đường này. Tảng đá nằm trên đỉnh vách đá cao, nếu có hòn đá nào rơi từ mép ngoài của nó ắt sẽ rơi cả ngàn bộ (2) và rớt xuống ngọn những cây thông phía dưới. Nơi mà người lính đang nằm thuộc một mũi khác của cùng vách đá đó. Nếu anh ta thức dậy, anh sẽ được chiêm ngưỡng toàn cảnh, không chỉ là đoạn đường ngắn và cục đá nhô ra ngoài, mà toàn bộ vách đá phía dưới. Hẳn là anh sẽ chóng mặt khi nhìn.

Cả vùng này đều đầy cây cối, trừ khu vực dưới thung lũng phía bắc, nơi có một đồng cỏ tự nhiên với một con suối chảy ngang, từ rìa thung lũng nhìn qua chỉ thấy lờ mờ. Khu đất trống này tuy trông không lớn hơn một sân nhà bình thường mấy, nhưng thực ra rộng đến vài hec- ta. Màu xanh của nó còn đậm nét hơn màu xanh của cánh rừng bao bọc xung quanh. Xa hơn đó nổi lên một dãy những vách đá khổng lồ, giống như những vách đá chúng ta  tưởng như đứng để quan sát cảnh hoang sơ này vậy, đó cũng là nơi mà con đường, bằng cách nào đó, đã leo lên tới đỉnh. Thật ra, địa thế của thung lũng này, nếu quan sát từ đây, có vẻ hoàn toàn khép kín, và người ta không thể không thắc mắc làm sao con đường đã chạy ra khỏi đó lại tìm lối quay trở vào được, và nguồn nước của con suối  chia tách cánh đồng ở 2000  bộ (2) dưới kia từ đâu đến và sẽ đổ về đâu.

Không một vùng đất nào hoang dã và cằn cỗi như thế, nhưng con người vẫn cố biến nó thành nơi giao chiến; ẩn trong cánh rừng ở dưới đáy thung lũng, chỗ này khoảng 50 người khống chế lối thoát có thể khiến cả một đội quân phải đầu hàng, và nơi đây năm trung đoàn bộ binh của quân Liên bang (3) đang đóng quân.  Họ đã hành quân suốt cả ngày đêm hôm trước, và giờ đang nghỉ ngơi. Lúc đêm xuống, họ sẽ lại lên đường, leo lên đến chỗ anh lính canh bất cẩn của họ đang nằm ngủ, và đổ bộ xuống phía con dốc kia của ngọn núi, tràn vào doanh trại của địch vào khoảng nửa đêm. Họ hy vọng sẽ làm địch bất ngờ, bởi con đường đó dẫn ra phía sau trại của chúng. Nếu thất bại, tình thế của họ sẽ cực kỳ nguy hiểm, thất bại thì dù vô tình hay cố ý họ đã để lộ  cho địch biết về sự di chuyển của mình.

II.    
Người lính đang ngủ trong bụi nguyệt quế là một chàng trai trẻ người Virginia tên là Carter Druse. Cha mẹ anh giàu có, là con trai độc nhất, anh đã từng biết sự an nhàn, giáo hoá và nếp sống sung túc, bởi hạnh phúc và thụ hưởng đều có thể đạt tới được ở vùng núi miền tây Virginia. Nhà anh cũng chỉ cách nơi anh đang nằm đây có vài dặm. Một buổi sáng, anh đứng dậy khỏi bàn ăn và nói, nhỏ nhẹ nhưng nghiêm trang: “ Thưa cha, một trung đoàn của liên bang vừa mới đến Grafton. Con sẽ xin nhập ngũ ở đó.”

Người cha ngẩng cái đầu như sư tử lên, im lặng nhìn cậu con trai một lúc rồi đáp: “ Được rồi, cứ đi đi, và, dù có chuyện gì xảy ra, hãy làm những gì con cho là bổn phận của mình. Virginia, con là kẻ phản bội nơi này, sẽ tiếp tục chiến đấu không cần có con. Nếu cả hai chúng ta còn sống sót qua cuộc chiến, chúng ta sẽ nói nhiều hơn về chuyện này. Mẹ của con, như bác sĩ đã cho con biết, đang trong tình trạng nguy kịch, may lắm bà cũng chỉ còn với chúng ta trong vài tuần nữa thôi, khoảng thời gian đó rất quý báu. Tốt hơn hết là đừng làm bà bận tâm nữa.

Thế là Carter Druse lễ phép cúi chào người cha của mình, ông đáp lại với sự lịch thiệp nghiêm túc để che giấu một trái tim tan nát, anh rời khỏi căn nhà tuổi thơ và lên đường nhập ngũ. Nhờ trung thực và dũng cảm, bằng những hành động tận tuỵ và can đảm, chẳng bao lâu anh thu phục được cảm tình của đồng đội và cấp trên. Và cũng do những phẩm chất đó, cộng thêm việc thông thạo vùng đất này, nên anh được chọn để thực hiện cái nhiệm vụ nguy hiểm ở nơi tuyến đầu xa cách này. Tuy nhiên, sự mỏi mệt đã lấn át quyết tâm và anh đã ngủ thiếp đi. Thiên thần hay ác quỷ đã xuất hiện trong giấc mơ để đánh thức anh khỏi tình trạng tội phạm của mình, có ai biết được? Không một cử động, không một âm thanh, trong im lặng sâu thẳm và không khí nặng nề của buổi chiều muộn, một sứ giả vô hình nào đó của định mệnh đã chạm ngón tay khai mở vào tâm trí anh, thì thầm vào tâm hồn anh lời cảnh tỉnh bí mật mà không ai từng thốt nên lời, không ai từng gợi nhắc đến. Anh khẽ khàng nhấc trán lên khỏi cánh tay, nhìn  xuyên qua hai nhánh cây nguyệt quế, bất giác nắm chặt lấy báng súng.

Cảm giác đầu tiên của anh là một nỗi khoan khoái rạo rực. Trên cây cột trụ khổng lồ,  chính là vách đá, đứng bất động ở gờ đá nhô ra ngoài, và nổi lên trên nền trời, là hình dáng một người cỡi ngựa, trông rất oai vệ. Người đàn ông ngồi trên lưng ngựa, nghiêm chỉnh và ra dáng nhà binh nhưng lại ẩn trong nét lặng yên của một vị thần Hy lạp chạm khắc trên đá cẩm thạch, ít gợi ra sự sống động. Bộ trang phục màu xám hài hoà với nền trời, các thứ kim loại phụ kiện và tấm vải trang trí lưng ngựa bị  bóng tối làm cho mờ nhạt đi. Da con vật cũng thấy kém bóng láng. Khẩu súng cac bin, bị không gian thu nhỏ lại, đặt ở đầu yên ngựa, báng súng được tay phải giữ chặt, còn tay trái, đang nắm dây cương, không nhìn thấy rõ. Hình bóng trên nền trời của con ngựa nổi lên rõ nét như viên đá trang sức được gọt giũa, nó đang hướng ra khoảng không gian cao vời, nhìn qua những vách đá đối diện ở bên kia. Khuôn mặt của người kỵ sĩ, hơi quay nghiêng một chút, chỉ để lộ đường viền nơi thái dương và chòm râu, ông ta đang nhìn xuống đáy thung lũng. Được phóng to do nâng cao trên nền trời và do nỗi sợ hãi của người lính khi cảm thấy kẻ địch đang kề cận, cả người và ngựa như có kích cỡ phi thường, gần như khổng lồ.

Trong một khoảnh khắc, Druse có một cảm giác kỳ lạ, không diễn tả được, là anh đã thiếp ngủ cho đến khi chiến tranh kết thúc, và giờ đây, anh đang ngắm nhìn một tác phẩm nghệ thuật cao quý được dựng lên trên gò đất kia để tưởng nhớ một quá khứ lịch sử anh hùng trong đó anh tham gia một phần chẳng vẻ vang gì. Cảm giác đó tan biến ngay khi bóng ngựa và người  bỗng cựa quậy, con ngựa, không nhấc chân lên, hơi nhích về phía sau một chút, còn người thì vẫn ngồi im như trước. Hoàn toàn tỉnh táo và nhận biết rõ ràng tình hình nghiêm trọng này, Druse áp má vào báng súng, cẩn thận chĩa nòng súng qua các bụi cây, lên đạn và ngắm vào điểm chết trên ngực người kỵ sĩ. Một cái bóp cò, và mọi sự sẽ êm đẹp với Carter Druse. Ngay lúc đó, người kỵ sĩ quay đầu lại và nhìn thẳng vào kẻ địch giấu mặt của mình - chừng như nhìn thẳng vào khuôn mặt thật của anh, vào đôi mắt, vào trái tim quả cảm, đầy lòng trắc ẩn của anh.

Trong chiến tranh, giết một kẻ địch có kinh khủng không - kẻ địch đã phát hiện được bí mật sống còn của chính anh và đồng đội, kẻ địch còn nguy hiểm do hiểu biết của mình hơn toàn bộ đội quân của hắn ta do số lượng đông đảo? Carter Druse mặt xanh mét, tay chân run rẩy, người yếu đi, anh thấy người ngựa trước mặt như những hình khối đen, nhô lên, cúi xuống, quay vòng trên bầu trời đỏ rực lửa. Bàn tay anh rời khỏi súng, đầu từ từ hạ xuống cho đến khi mặt anh chạm phải lớp lá anh đang nằm lên trên. Chàng trai quả cảm, người lính gan dạ này gần như ngất đi vì quá xúc động.

Không bao lâu sau, trong một khoảnh khắc khác, anh lại ngẩng mặt lên, hai tay lại nắm chặt cây súng, ngón tay trỏ đặt lên cò; tâm trí, trái tim và đôi mắt lại rõ ràng, nhận thức và lý trí đều lên tiếng. Anh không hy vọng bắt sống được kẻ địch, đánh động hắn chỉ khiến hắn phi nhanh về doanh trại với thông tin tai hại kia. Nhiệm vụ của người lính thật rõ ràng, phải hạ hắn ngay từ chỗ phục kích - không lời cảnh báo, không thời gian chuẩn bị tinh thần, không mất công cho một lời cầu nguyện âm thầm, hắn phải bị thanh toán ngay. Nhưng không - cũng còn có hy vọng, có thể hắn chưa phát hiện gì cả, biết đâu hắn chỉ đang chiêm ngưỡng phong cảnh ngoạn mục này thôi. Nếu được phép, hắn có thể quay lại và vô tư phi về theo hướng mà hắn đã đến. Chắc chắn là quan sát lúc hắn bỏ đi thì biết được hắn có phát hiện ra điều gì không. Có lẽ chỉ do hắn quá chăm chú - Druse quay đầu lại và nhìn vào khoảng không phía dưới, như nhìn xuống đáy biển mờ đục. Anh nhìn thấy một hàng dài những người và ngựa đang bò qua đồng cỏ xanh rờn - gã chỉ huy dại dột nào đó đã cho phép lính của mình dắt ngựa đi uống nước nơi cánh đông trống trải, từ mọi phía đều nhìn thấy được.

Druse rời mắt khỏi thung lũng và nhìn trở lại người kỵ sĩ với con ngựa trên bầu trời, và một lần nữa ngắm trên khẩu súng trường. Nhưng lần này, mục tiêu là con ngựa. Trong ký ức của mình, vang lên như một mệnh lệnh thiêng liêng những lời của người cha nói lúc chia tay: “ Dù có chuyện gì xảy ra, con hãy làm những gì con cho là bổn phận của mình.” Bây giờ anh rất bình tĩnh. Anh cắn răng nhưng không quá chặt, thần kinh của anh ổn định như của một đứa bé đang ngủ, không một cử động nào ảnh hưởng đến cơ bắp trên người anh, hơi thở anh vẫn điều hoà và chậm rãi cho đến khi phải kìm lại để ngắm bắn . Trách nhiệm đã chiến thắng, tinh thần mách bảo cơ thể: Bình tĩnh, nằm im đi. Và anh nổ súng.


III.  
Một sĩ quan của quân đội Liên bang, một người có tinh thần phiêu lưu, ưa tìm hiểu, đã rời khỏi doanh trại kín đáo dưới thung lũng, và lang thang đi tới khu đất trống gần chân vách đá. Ông đang băn khoăn không biết sẽ thu thập được gì nếu đi thám hiểm xa hơn. Ở khoảng cách chừng một phần tư dặm phía trước mặt, nhưng cũng có thể là gần hơn, từ  hàng cây thông nổi lên một tảng đá khổng lồ, cao đến nỗi khiến ông chóng mặt khi cố nhìn lên nơi nó cắt một đường sắc nét và lởm chởm trên bầu trời. Nó tạo nên hình ảnh dựng đứng, nổi bật trên nền trời xanh đến điểm giữa con đường đi xuống, và trên những ngọn đồi ở phía xa, xanh nhạt hơn, từ nơi đó cho đến những ngọn cây ở dưới chân. Ngước mắt nhìn lên độ cao chóng mặt trên đỉnh, người sĩ quan nhìn thấy một cảnh tượng hết sức lạ lùng - một người đàn ông cỡi ngựa phi xuống thung lũng giữa không trung.

Người kỵ sĩ, mặc quân phục, ngồi thẳng trên lưng ngựa, tay ghì chặt dây cương để con ngựa chiến không lao xuống quá nhanh. Trên đầu trần, mái tóc dài dựng đứng, phất phơ như chiếc lông vũ. Đôi bàn tay bị cái bờm cũng dựng đứng của con ngựa che khuất. Thân hình con ngựa ngang bằng, tưởng chừng như chân nó chạm đất vậy. Đấy là chuyển động của bước phi nước đại hung hãn, ngay cả khi viên sĩ quan nhin thấy họ dừng lại, bốn chân tung ra như sắp tiếp đất sau cú nhảy vọt. Nhưng thật sự là nó đang bay!

Ngỡ ngàng và kinh hoàng trước sự xuất hiện của người kỵ sĩ trên bầu trời, thoáng tin rằng mình là người ghi chép được chọn cho một cuốn sách Khải huyền mới, viên sĩ quan choáng ngợp trong cảm xúc dâng trào, chân không còn đứng vững, ông ngã xuống. Gần như ngay lúc đó, ông nghe tiếng cây gãy đổ - tiếng động tắt lịm ngay không có âm vang - rồi mọi thứ  chìm vào tĩnh lặng.

Viên sĩ quan đứng dậy, run rẩy. Cảm giác quen thuộc khi bị cọ vào ống chân gợi cho ông những năng lực phi thường. Trấn tỉnh lại, ông cố chạy nhanh ra khỏi nơi này đến điểm xa chân vách đá. Nơi đây ông hy vọng sẽ tìm thấy người kỵ sĩ, và nơi đây tất nhiên ông thất bại. Trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi ông mục kích mọi chuyện, trí tưởng tượng của ông nhắm vào sự uyển chuyển, thoải mái và chủ tâm thấy rõ của màn trình diễn kỳ diệu nên ông không hề nghĩ rằng con đường của người kỵ sĩ bay ấy đi thẳng xuống dưới và ông có thể phát hiện đối tượng tìm kiếm của mình ngay dưới chân vách đá.

Nửa giờ sau, ông trở về doanh trại.

Viên sĩ quan là một người khôn ngoan, ông hiểu rõ là không nên nói ra sự thật khó tin đó.

Và ông không cho ai biết những gì ông đã nhìn thấy. Khi ông trung tá hỏi khi đi trinh sát ông có phát hiện ra điều gì có lợi cho cuộc hành quân không thì ông trả lời:
- Có đấy ạ. Không có con đường nào dẫn xuống thung lũng từ phía nam cả.

Vị trung tá, biết nhiều chuyện hơn, mỉm cười.

IV.
Sau khi nổ súng, binh nhì Carter Druse nạp đạn lại khẩu súng và tiếp tục việc canh gác. Mười phút trôi qua khi một trung sĩ quân Liên bang thận trọng bò tới gần anh. Druse không quay lui cũng không nhìn hắn ta, cứ nằm đó không cử chỉ hay dấu hiệu gì tỏ ra đã nhận biết.
“ Cậu đã bắn phải không?”, viên trung sĩ thì thầm.
“ Đúng vậy.”
“ Vào cái gì?”
“ Một con ngựa. Nó đứng trên tảng đá đàng kia - khá xa. Ông thấy là nó không còn ở đó. Nó đã đi qua vách đá.

Mặt anh lính trắng bệch, không để lộ chút cảm xúc nào. Trả lời xong, anh quay mặt đi và không nói gì thêm. Viên trung sĩ không hiểu gì cả.
“ Nghe này, Druse, ông nói, sau một lúc im lặng, “ không việc gì phải giữ bí mật. Tôi yêu cầu cậu phải báo cáo rõ ràng. Có ai ngồi trên con ngựa ấy không?” 
“ Có.”
“ Ai? “
“ Cha tôi.”

Viên trung sĩ đứng dậy bỏ đi. Vậy sao, ông ta nói.

 _______________________________________
 1.    yard. 1 yard= 0,9144m.
2.    foot, feet. 1 foot= 30,48 cm.
3.    Tức là quân Liên bang miền Bắc, trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ ( 1861-1865 )
  
THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Anh