Monday, June 14, 2021

2055. TỲ BÀ HÀNH Bạch Cư Dị - Tô Thẩm Huy chuyển ngữ



Tặng Lãm Thuý

  

Lời Nói Đầu Của Người Dịch

 

Cách đây gần hai mươi năm, trong chuyến đi công tác vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, tôi có dịp ghé thăm cố đô Huế.  Ban ngày đi thuyền dọc theo sông Hương thăm các lăng tẩm.  Buổi tối vợ chồng anh lái đò cho gọi gánh hát lên thuyền, thắp nến thả trôi trên sông, rồi hát những bài bảo là nhạc cung đình,xưa kia chỉ vua chúa mới được nghe, nhưng lại có cả những bài tân nhạc như Mưa Trên Phố Huế v.v…  Ca nhạc sĩ đều là những người xuất thân từ nhạc viện Huế, trình diễn rất cung cách, điêu luyện.  Tôi không khỏi nhớ đến Bạch Cư Dị, và bản dịch Tỳ Bà Hành của Phan Huy Vịnh(Phan HuyThực?)  Bản dịch Tỳ Bà Hành của cụ Phan thật là một áng văn chương tuyệt đẹp.  Hai câu đầu hay không bút nào tả xiết:  Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.  Hai câu ấy trong nguyên tác là Tầm Dương giang đầu dạ tống khách, Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.  Lá phong và hoa lau mùa thu xạc xào, sao sác.  Hai chữ sắt sắt ở cuối câu thật mạnh, thật đau xót, vừa có ý xào xạc, lại vừa có ý quặn mình xót xa, héo hắt.  Cụ Phan bỏ không dịch hai chữ phong diệp, nhưng hai chữ lau lách của cụ đã gói trọn cả cảnh trời sầu muộn biệt ly.  Hai câu ấy thật không sao có thể dịch hay hơn được.  Lại có những câu như cùng một lứa bên trời lận đậnthật là tuyệt hay.  Tuy nhiên trong bản dịch ấy lại có dùng nhiều chữ Việt tuy không phải là những chữ cổ, cụ Phan cách chúng ta cũng chỉ dưới hai trăm năm, nhưng nghe đã ít quen tai, ý nghĩa dễ bị lạc đi hướng khác.  Chẳng hạn như hai câu ba, bốn:  Người xuống ngựa, khách dừng chèo, Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc tyTrúc ty thì có thể hiểu ngay là trúc, là sáođàn.  Nhưng nhớ chiều trúc ty thì trước khi đọc nguyên tác tôi đã hiểu nhầm là nhớ một buổi chiều nào đó trong quá khứ từng ngồi nghe đàn hát với nhau.  Đến chừng đọc nguyên văn hai câu ấy làChủ nhân há mã khách tại thuyền, Cử tửu dục ẩm vô quản huyền, không thấy có buổi trưa, buổi chiều gì cả, tôi mới vỡ lẽ ra chiều ở đây là chiều hướng, là dáng vẻ, là chiều như trong câu Kiều Xem trong âu yếm có chiều lả lơi. Hay là câu người xuống ngựa, khách dừng chèo thì tôi không hiểu rõ là người nào xuống ngựa, phải sau khi đọc nguyên tác mới hiểu đó là người chủ tiệc tức Bạch Cư Dị khi đến nơi, xuống ngựa, thì bạn đã ngồi đợi trên thuyền.

 

Trở về đất Mỹ, tôi bâng khuâng nhớ lại tiếng đàn tiếng hát giữa cảnh sông nước lung linh, lẩm nhẩm ngâm mấy câu Tỳ Bà Hành, rồi tự lúc nào không biết đã dịch lại cả bài thơ ấy, cố sao cho gần với tiếng Việt bây giờ.  Nay tình cờ có người bạn Văn mới làm bài thơ có nhắc đến mấy tứ trong Tỳ Bà Hành, tôi chép lại ra đây gửi bạn cùng đọc.

 

Tô Thẩm Huy, Houston, Tiết Hạ Chí, Đinh Dậu 2017

 


 *

 

Lời Tựa Của Bạch Cư Dị

 

Nguyên Hòa thập niên, dư tả thiên Cửu Giang quận Tư Mã. Minh niên thu, tống khách Bồn Phố Khẩu, văn chu trung dạ đàn tỳ bà giả, thính kỳ âm tranh tranh nhiên hữu kinh đô thanh. Vấn kỳ nhân, bản Trường An xướng nữ, thường học tì bà vu Mục, Tào nhị thiện tài.  Niên trưởng sắc suy, uỷ thân vi cổ nhân phụ. Toại mệnh tửu, sử khoái đàn sổ khúc.  Khúc bãi mẫn nhiên, tự tự thiếu tiểu thời hoan lạc sự, kim phiêu luân tiều tụy chuyển tỷ vu giang hồ gian.

 

Dư xuất quan nhị niên, điềm nhiên tự an, cảm tư nhân ngôn thị tịch thí giác hữu thiên trích ý, nhân vi trường cú ca dĩ tặng chi phàm lục bách nhất thập lục ngôn, mệnh viết Tỳ Bà Hành.

 

元和十年,予左遷九江郡司馬明年秋,送客湓浦口,中夜彈琵琶者, 聽其音錚錚然有京都聲問其人, 長安倡女嘗學琵琶於穆曹二善才,年長色衰, 委身為賈人婦。遂命酒,使快彈數曲。曲罷憫然,自敘少小時歡樂事,今漂淪憔悴轉徙於江湖間。

予出官二年, 恬然自安, 感斯人言是夕始覺有遷謫意,因為長句歌以贈之凡六百一十六言, 命曰琵琶行

 

Năm Nguyên Hoà thứ mười (815) ta bị giáng về làm Tư Mã quận Cửu Giang.  Thu năm sau tiễn bạn trên bến sông Bồn, chợt từ thuyền ai réo rắt tiếng tỳ bà giữa đêm khuya, nghe thánh thót nét nhạc kinh đô.  Hỏi ra thì người ấy trước là ca kỹ ở kinh thành Trường An, từng học đàn với hai danh sư họ Mục, họ Tào.  Lúc xế chiều tàn suy nhan sắc, gửi thân về làm vợ kẻ lái buôn.  Ta bầy tiệc mời nàng dạo mấy khúc. Đàn xong, nàng ngậm ngùi thuật lại dâu biển đời mình, từ những ngày thanh xuân vui sướng, đến lúc tiều tuỵ nổi trôi trên chốn sông hồ.

 

Ta làm quan lưu đầy đã sang năm thứ hai, lòng vẫn an nhiên tự tại, đêm nay chợt cảm lời ai mà chạnh xót phận mình, viết lên bản trường ca sáu trăm mười sáu chữ này để tặng nàng, gọi tên là Khúc Hát Tỳ Bà. 


 

 

KHÚC HÁT TỲ BÀ

 

Bản Dịch của Tô Thẩm Huy

 

 

Bến Tầm Dương hoa lau sao sác,

Thu úa vàng se sắt cánh phong.

Ngựa dừng, tiễn bạn trên sông,

Chén đưa muốn cạn, chạnh không phách đàn.

 

Say càng hận hơp tan, ly biệt.

Giòng biệt ly thẫm biếc trăng soi.

Bỗng nghe trên sóng chơi vơi,

Tỳ Bà thánh thót đầy trời mênh mang.

 

Chủ cùng khách bàng hoàng, xao xuyến,

Lần thuyền xuôi, tìm đến làm quen.

Ngập ngừng, đàn bỗng lặng im,

Khêu đèn bầy tiệc, nài xin gặp người.

 

Mời gọi mãi, vâng lời lộ diện,

Nửa đàn che, e thẹn mặt hoa.

So dây mấy tiếng ngân nga,

Chưa vào giai điệu đã ra hồn cầm.

 

Mỗi dây đàn, mỗi âm thổ lộ,

Mỗi nỗi niềm sầu khổ khôn nguôi.

Nhíu mày nắn phím đầy vơi,

Bao điều thầm kín cất nơi đáy lòng.

 

Tay ngọc vuốt, bắt, buông, thoăn thoắt,

Chuỗi âm thanh réo rắt, đê mê.

Dây trầm mưa gió dầm dề,

Dây thanh âu yếm tỉ tê nỗi niềm.

 

Dòng châu dội, vang trên bàn ngọc,

Hạt nhỏ to, dồn dập, nỉ non.

Vút cao oanh hót véo von,

Nghẹn ngùng thác đổ trên nguồn thênh thang.

 

Đang thánh thót, suối đàn ngưng bặt,

Thời gian như đứng lặng, ngừng trôi.

Không gian mênh mông chơi vơi.

Nghe trong thinhlặng kiếp người buồn tênh.

 

Đàn lại vỡ, trừng lên gay gắt,

Thét gươm đao, ngựa sắt ầm vang.

Dứt bài, quét phím mặt đàn,

Bốn dây lụa xé, vút lan đêm trường.

 

Đêm ắng lịm, khoang thuyền im phắc.

Vầng trăng thu ngây ngất lòng sông.

Đàn xong, cất phím trầm ngâm,

Đứng lên vuốt áo giãi phân mấy lời.

 

Rằng, xưa vốn là người kẻ chợ,

Cồn Hà Mô, trước ở Trường An.

Mười ba đã thạo ngón đàn,

Giáo phường đệ nhất, giữa làng thiện âm.


Dễ ai hơn giọng cầm hiu hắt ?

Vẻ phấn son, ai chắc nhường ai ?

Ngũ Lăng say đắm bao trai,

Tranh nhau lụa đỏ, chen vai khăn hồng.

 

Lúc cao hứng, tuột trâm, gẫy lược.

Khi tiệc vui, đàn suốt năm canh.

Quần hồng hoen rượu ngày xanh,

Thu đông hoan lạc, xuân thanh lỡ làng.

 

Mảnh nhan sắc, thời gian giầy xé,

Vắng ngựa xe quạnh quẽ riêng mình.

Dì chết, em lại tòng chinh,

Về già nương tựa chút tình khách buôn.

 

Khách ham lợi mải đường buôn bán,

Phù Lương đi cả tháng không về.

Sông trôi trăng lạnh não nề,

Một thuyền, một bóng đi về lẻ loi.

 

Đêm khuya chợt mơ trời hội cũ,

Hồng lệ hoen mộng thủa nào xưa…

Ta nghe đàn đã xót xa,

Lại thương một kiếp tài hoa, dạt vùi.

 

Cùng góc bể, chân trời phiêu bạc,

Không hẹn mà bước lạc gặp nhau.

Ngỡ ngàng mấy cuộc bể dâu,

Trong đêm hạnh ngộ cảm sâu nỗi này.

 

Ta từ thủa thân đầy đất trích,

Về Tầm Dương ngoạ bịnh một năm.

Tầm Dương hoang vắng thanh âm,

Quanh năm suốt tháng tuyệt không tiếng đàn.

 

Chỗ ta ở Bồn Giang đất thấp,

Chung quanh nhà lau trúc tràn lan.

Đêm nghe quyên nhỏ máu than,

Ngày nghe vượn hú gọi đàn thê lương.

 

Thân vò võ, tay đơn, chén chiếc,

Sớm bên hoa, khuya thiếp trăng thu.

Sáo quê thổi tiếng inh u,

Trõi tai nghe mãi lọt ru được nào.

 

Đêm nay được dạt dào âm nhạc,

Thơm cả hồn, đến lạc Thiên Thai.

Gặp nhau, đêm ngắn mộng dài,

Đàn thêm một khúc cho ai thoả lòng...

 

Ngồi xuống gảy một cung u thảm.

Bao đáy lòng nứt rạn chênh vênh.

Kìa ai ngấn lệ long lanh,

Riêng ta, Tư Mã, áo xanh nhạt nhoà.

Vì nàng, viết khúc Tỳ Bà.

 

 

TỲ BÀ HÀNH

 

Bạch Cư Dị

  

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách

Phong diệp địch hoa thu sắt sắt

Chủ nhân há mã khách tại thuyền

Cử tửu dục ẩm vô quản huyền

 

Túy bất thành hoan thảm tương biệt

Biệt thì mang mang giang tẩm nguyệt

Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh

Chủ nhân vong quy khách bất phiết

 

Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy

Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì

Di thuyền tương cận yêu tương kiến

Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến

 

Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai

Do bão tỳ bà bán già diện

Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh

Vị thành khúc điệu tiên hữu tình

 

Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ

Tự tố bình sinh bất đắc chí

Đê my tín thủ tục tục đàn

Thuyết tận tâm trung vô hạn sự

 

Khinh long mạn nhiên mạt phục khiêu

Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu

Đại huyền tào tào như cấp vũ

Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ

 

Tào tào thiết thiết thác tạp đàn

Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn

Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt

U yết tuyền lưu thủy há than

 

Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt

 Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết

Biệt hữu u sầu ám hận sinh

Thử thời vô thanh thắng hữu thanh

 

Ngân bình sạ phá thủy tương bính

Thiết kỵ đột xuất đao thương minh

Khúc chung thu bát đương tâm hoạch

Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch

 

Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn

Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch

Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung

Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung

 

Tự ngôn bản thị kinh thành nữ

Gia tại Hà mô lăng hạ trú

Thập tam học đắc tỳ bà thành

Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ


Khúc bãi tằng giáo thiện tài phục

Trang thành mỗi bị Thu Nương đố

Ngũ lăng niên thiếu tranh triền đầu

Nhất khúc hồng tiêu bất tri số

 

Điền đầu ngân bề kích tiết toái

Huyết sắc la quần phiên tửu ố

Kim niên hoan tiếu phục minh niên

Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ

 

Đệ tẩu tòng quân a di tử

Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố

Môn tiền lãnh lạc xa mã hy

Lão đại giá tác thương nhân phụ

 

Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly

Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ

Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền

Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn

 

Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự

Mộng đề trang lệ hồng lan can …

… Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức

Hựu văn thử ngữ trùng tức tức

 

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân

Tương phùng hà tất tằng tương thức

Ngã tòng khứ niên từ đế kinh

Trích cư ngoạ bịnh Tầm Dương thành

 

Tầm Dương địa tích vô âm nhạc

Chung tuế bất văn ty trúc thanh

Trú cận Bồn giang địa đê thấp

Huỳnh lô khổ trúc nhiễu trạch sanh

 

Kỳ gian đán mộ văn hà vật

Đỗ quyên đề huyết viên ai minh

Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ

Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh

 

Khởi vô sơn ca dữ thôn địch

Ấu á trù triết nan vi thính

Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ

Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh

 

Mạc từ cánh toạ đàn nhất khúc

Vị quân phiên tác Tỳ Bà Hành

Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập

Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp

 

Thê thê bất tự hướng tiền thanh

Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp

Toà trung khấp hạ thùy tối đa

Giang châu Tư Mã thanh sam thấp


白居易

  

調

漿

西

滿

 

Bản Dịch Tỳ Bà Hành của Phan Huy Vịnh


Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách.

Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.

Người xuống ngựa, khách dừng chèo,

Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty.

 

Say những luống ngại khihầurẽ,

Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.

Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,

Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.

 

Lần tiếng sẽ, hỏi ai đàn tá ?

Lửng tiếng đàn, nấn ná làm thinh.

Dời thuyền theo hỏi thăm tình,

Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.

 

Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ,

Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.

Vặn đàn vài tiếng dạo qua,

Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay.

 

Nghe não nuột mấy dây bứt rứt,

Dường than niềm tấm tức bấy lâu.

Chau mày, tay gảy khúc sầu,

Giãi bày mọi nỗi trước sau muôn vàn.

 

Ngón buông, bắt, khoan khoan dìu dặt,

Trước Nghê thường, sau thoắt Lục yêu.

Dây to nhường đổ mưa rào,

Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng.

 

Tiếng cao thấp lần chen liền gảy,

Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.

Trong hoa, oanh ríu rít nhau,

Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh.

 

Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt,

Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ.

Ôm sầu, đau giận ngẩn-ngơ,

Tiếng tơ lặng lẽ bấy giờ càng hay.

 

Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước,

Ngựa sắt giong, thét ngược tiếng đao.

Cung đàn trọn khúc thanh tao,

Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.

 

Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,

Một vầng trăng trong vắt lòng sông.

Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,

Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời.

 

Rằng xưa vốn là người kẻ chợ,

Cồn Hà mô trú ở lân la.

Học đàn từ thuở mười ba,

Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên.

 

Gã thiện tài sợ phen dừng khúc,

Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô.

Ngũ lăng, chàng trẻ ganh đua,

Biết bao the tấm chuốc mua tiếng đàn.

 

Vành lược bạc gãy tay nhịp gõ,

Bức quần hồng hoen ố rượu rơi.

Năm năm lần lữa vui cười,

Mãi gió trăng chẳng đoái hoài xuân thu.

 

Buồn em trẩy, lại sầu dì thác,

Lần hôm mai đổi khác hình dung.

Cửa ngoài xe ngựa vắng không,

Thân già mới kết đôi cùng khách thương.

 

Khách trọng lợi khinh thường ly cách,

Mãi buôn chè, sớm tếch miền khơi.

Thuyền không đậu bến mặc ai,

Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.

 

Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,

Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son.

Nghe đàn ta đã chạnh buồn.

Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời,

 

Cùng một lứa bên trời lận đận,

Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.

Từ xa kinh khuyết bấy lâu,

Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai.

 

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,

Tai chẳng nghe đàn địch cả năm.

Sông Bồn gần chốn cát lầm,

Lau vàng, trúc võ nảy mầm quanh hiên.

 

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối,

Cuốc kêu sầu, vượn hót nỉ non.

Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,

Lần lần tay chuốc chén son riêng ngừng.

 

Há chẳng có ca rừng địch nội,

Giọng líu lo, nhiều nỗi khó nghe.

Tiếng tỳ nghe dạo canh khuya,

Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.

 

Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,

Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.

Tần ngần dường cảm lời ta,

Đến ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây.

 

Nghe não nuột khác tay đàn trước,

Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.

Lệ ai chan chứa hơn người ?

Giang châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.