Monday, March 14, 2022

2357. RA MẮT TẠP-CHÍ KẺ SĨ SỐ 1, XUÂN 2022: TRI-THỨC & THỜI-CUỘC

RA MẮT

TẠP-CHÍ KẺ SĨ SỐ 1, XUÂN 2022:

TRI-THỨC & THỜI-CUỘC

 

Bốn năm về trước, sau một thời-gian trao đổi thư-từ và điện-thoại qua lại, lần đầu tiên thăm Tô Thẩm-Huy ở quý-phủ Tô-gia, tôi bị bất ngờ bởi một câu hỏi của Tô-công trong lúc trà-dư tửu-hậu. Nguyên bấy giờ tôi đang nghiên-cứu tư-tưởng Nguyễn Đức-Đạt, danh-nho triều Tự-Đức, trước kia đã chuẩn-bị sơ-cảo về Hoát-Như tiên-sinh gửi cho Tô-công qua điện-thư. Vốn biết sở-học Tô-công bát ngát, mà riêng đối với cựu-học thì tồn-dưỡng càng thâm-hậu, cho nên tôi đã cố gắng chuẩn-bị thêm vài thứ để nói về Nguyễn Đức-Đạt và tư-tưởng lý-học của ông. Kịp đến hôm tái-phùng ở Tô-phủ, câu hỏi Tô Thẩm-Huy đặt ra cho tôi, đã khiến tôi choáng váng, chẳng biết lấy lời gì mà thưa: “Thế, Đan kể về Nguyễn Đức-Đạt cho tụi này nghe đi. Lý-tưởng của ông về kẻ sĩ ra làm sao?” Hai người ngồi im hồi lâu, không-gian ẩm ướt của đêm hè Houston như khiến khoảnh-khắc đó kéo dài đến vô-tận. 

 

Chắc chắn, trước đêm đó tôi đã phải đọc qua hai chữ “kẻ sĩ” ở đâu đó, song rõ ràng hai chữ ấy khi đọc suông trên trang giấy đã chẳng để lại ấn-tượng gì đủ sâu sắc để khắc vào ký-ức và cảm-tưởng tôi một ý-niệm cụ-thể nào đó có thể tức-thời đáp-ứng câu hỏi của Tô Thẩm-Huy. Cho đến ngày nay, câu hỏi của Tô Thẩm-Huy về “kẻ sĩ” đêm hè năm ấy vẫn văng vẳng bên tai tôi, không chỉ đối với Nguyễn Đức-Đạt, nhưng còn đối với bao nhiêu phong-lưu nhân-vật Đông-Tây, cổ-kim khác vậy. Bảo rằng ý-tưởng chủ-trương một tạp-chí mang tên Kẻ Sĩ đã manh-nha từ lúc ấy, e cũng là ngoa-ngôn. Dù đã bàn bạc với bạn bè tri-giao về ý muốn lập một tạp-chí học-thuật kiêm văn-nghệ ngay từ những năm tháng đấy, song lần nào cũng chỉ dừng lại ở những lời bàn tuy sốt sắng rất mực, nhưng chưa đủ quả-quyết để đòi hỏi phải nghĩ ra một tên cụ-thể cho tạp-chí tương-lai. Tuy-nhiên, suốt bốn năm qua, ước vọng về một tạp-chí Việt-văn, dù khi nồng khi lạt, chưa hề dập tắt trong tôi. Đặc-biệt là trải qua những biến-động nước nhà hưng-phế, sự đời tang-thương kể từ năm Canh-Tý đến nay, những điều mắt thấy tai nghe ngày một thúc đẩy tôi phải phản-tỉnh, phải đọc thêm, phải viết xuống những mối trầm-tư, đôi khi dường như đã ấp ủ từ một tiền-kiếp mịt mù nào đó. Phải đọc, phải viết — phải thúc đẩy và khuyến-khích bạn bè cùng đọc, cùng viết, dù chỉ để gửi vào hư-không hết thảy những cảm-khái vụn vặt, những tâm-huyết viển vông ấy, như một nỗ-lực hăng say tuyệt-vọng và hiên-ngang. 

 

Khi lên chủ-trương cho tạp-chí Kẻ Sĩ, phản-ứng chín người mười ý về tên Kẻ Sĩ có lẽ là một trong những điềm rõ rệt nhất, khiến tôi vững vàng trong lựa chọn này. Cũng như thế-hệ Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá-Trác một trăm năm trước, thế-hệ chúng tôi là những người đứng trước ngưỡng chuyển-giao của những quá-khứ, những hiện-thực đan xen nhau trong các cơ-chế quyền-lực (và bạo-lực) vừa khốc-liệt, vừa tràn đầy nguyên-khí sáng-tạo. Có lẽ, chúng tôi sinh-trưởng đủ muộn để tự ý-thức được vị-thế muộn màng của mình trong dòng lịch-sử hiện-đại, song lại còn quá sớm để hướng hoàn-toàn về một chân trời tương-lai sáng rỡ niềm tin. Một cách nghịch-lý, khi các diễn-ngôn tiến-hóa, hiện-đại, hậu-hiện-đại, v.v. đã già nua đi trong lòng thời-đại, chuyển-hương táo bạo và sáng-tạo nhất là những chuyển-hướng thoạt đầu dường như mang tính bảo-thủ và hoài-cổ. Xin nhấn mạnh hai chữ dường như, vì điều tôi nói đây tuyệt-nhiên không vừa vặn các diễn-ngôn đảng-phái tả-hữu chi-phối vũ-đài chính-trị Hoa-kỳ ngày nay. Có lẽ tế-nhị hơn nữa, điều tôi nói ở đây cũng không hoàn-toàn phù-hợp với thế-giới-quan lưỡng-cực phân-tranh Nam-Bắc, Quốc-Cộng trước 1975, hay hậu-thân của thế-giới-quan đó, là lưỡng-cực phân-tranh giữa “quốc-nội” và “hải-ngoại” sau đỉnh-cách 1975. Nhiều người đã lầm tưởng nội-hàm hai chữ “kẻ sĩ” trong tên tạp-chí này sẽ phục-vụ cho một trong những diễn-ngôn hay tự-sự kể trên, lầm tưởng rằng sẽ có thể đóng khung được chủ-trương tạp-chí trong bối-cảnh các luận-chiến về những vấn-đề thuộc những diễn-ngôn và tự-sự kể trên, những thứ, cứ ngu-ý, nay đã cũ rích, thậm-chí đã thiên lệch không thể cứu-vãn ngay từ cách đặt vấn-đề ban sơ. 

 

Kỳ-thực, “kẻ sĩ” là danh-xưng tôi mượn để miêu-tả một mẫu người lý-tưởng đọc sách, cầm bút trong không-gian Việt-văn, tuy lý-lịch có sự tương-quan mật-thiết với các biến-cố và tự-sự lịch-sử kể trên, nhưng không chịu sự chi-phối triệt-để của một diễn-ngôn duy-nhất, không ôm tấc ngu-trung tử-thủ một dòng luận-chiến bộ-lạc chỉ vì những huyễn-tưởng về lý-lịch và trách-nhiệm cá-nhân hay căn-cước và truyền-thống cộng-đồng. Khái-niệm không-gian Việt-văn tôi chủ-trương ở đây là một không-gian khái-niệm (conceptual space) tập-đại-thành từ toàn-thể các phương-thức ngữ-văn đã được sử-dụng, hoặc đã từng có ảnh-hưởng, trong việc truyền-tải kiến-thức và tư-tưởng trong tri-thức-giới Việt xuyên suốt thời lịch-triều cho tới ngày nay. Về bản-chất, không-gian này là một không-gian đa-nguyên văn-tự, đa-nguyên ngôn-ngữ. Diễn-ngôn của không-gian này được tạo nên bởi hợp-lưu của nhiều dòng chảy tuy không loại-trừ lẫn nhau, nhưng cũng không phải không có những mâu-thuẫn, những bất-bình-đẳng, những vấn-đề nan-giải nội-tại, cho dù bề ngoài đã bị đồng-hóa bởi “mặt tiền” hệ-thống Quốc-ngữ viết theo chữ cái La-tinh. Đối với thế-hệ chúng tôi, là những người không thiếu chọn lựa sinh-ngữ (với cả cổ-ngữ) để dùng làm môi-giới trao đổi tri-thức với nhau, quyết-định sử-dụng Việt-văn tuy là một lựa chọn có ý-thức, nhưng ít ra với cá-nhân tôi, đã không còn đa-mang những hệ-lụy đè nặng trên tâm-tư của thế-hệ những Võ Phiến, những Cao Tần, những Nguyễn Mộng-Giác, thậm-chí đã chi-phối và định-hướng khuynh-hướng và lý-thuyết sáng-tác của nhiều nhà cầm bút trên văn-đàn hải-ngoại lâu nay. Chúng tôi đã vượt ngục lao-lung của những ám-ảnh về “tiếng Việt”, di-sản rắc rối của các diễn-ngôn quốc-hồn, quốc-túy thuộc về thế-kỷ trước. Tuy không làm ngơ dư-hưởng của các cuộc tranh-luận một thời sôi nổi — vận-động “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của chế-độ hải-nội, chủ-trương bảo-tồn những biến-thể sinh-ngữ Việt-nam Cộng-hòa ở hải-ngoại, v.v. — song, chúng tôi lựa chọn đặt mình ra khỏi vòng luận-chiến, hầu có được những góc tiếp-cận tự-chủ và độc-sáng hơn khi nhìn nhận bối-cảnh đại-quan, vừa bằng đôi mắt lãnh-đạm của những sử-gia hồi-cố quá-trình hưng-vong của lịch-triều, vừa bằng tinh-thần kiên-quyết và bất-khuất của những chứng-nhân “trơ gan cùng tuế-nguyệt”, “cau mặt với tang-thương”

 

Đương-nhiên, trong các diễn-ngôn đương-đại vẫn có sẵn những mẫu người tri-thức thoạt đầu tưởng chừng không tự-cao bằng nhân-vật “kẻ sĩ”. Nhìn sang lân-quốc, thì ở Đại-lục, Hương-cảng, Đài-loan vẫn có những học-nhân, tri-thức-nhân. Xã-hội Âu-Mỹ thì lâu nay vẫn có nhân-vật public intellectual, có thể tạm hiểu là một tri-thức hay một học-giả hành nghề hướng đến đại-chúng. Ở hải-nội thì hiện nay lại có vô-số nhân-vật thực-học mập mờ, nhưng vẫn được tôn-xưng bằng những mỹ-hiệu phù-vinh. Ở một tầng lớp khác, lại có những triết-gia, những tiến-sĩ quyền cao chức trọng, dường như chỉ đối-thoại với nhau bằng một dạng mật-ngữ bộ-lạc thiên-binh thiên-tướng, khép sách lại không còn hiểu chi đại-thế thiên-hạ. Chúng tôi tuyệt-đối phủ-nhận việc đánh giá tư-cách hay giá-trị của tư-tưởng con người dựa trên những thứ như học-vị, danh tiếng, hay sự liên-kết của họ với một cơ-quan hay hệ-thống nào đó. Những danh-xưng trên, ít nhiều đều hàm-ý về những tiền-đề lý-lịch và thân-phận cá-nhân, địa-vị xã-hội, chứng-chỉ học-giới, chúng tôi cho là không còn phù-hợp với mẫu người tri-thức lý-tưởng ngày nay, đặc-biệt là trong không-gian tri-thức Việt-văn. Tuy-nhiên, chúng tôi lại càng không đồng-tình với khuynh-hướng tầm-thường-hóa nhân-sinh-quan và biếm-hoạ hầu hết mọi mối quan-tâm ưu-thời mẫn-thế trở thành những ảo-tưởng vu-khoát và đạo-mạo. Khái-niệm của chúng tôi về nhân-vật “kẻ sĩ” — dù kẻ sĩ đó là Don Quixote, là Nguyễn Đức-Đạt, hay là Cao Đông-Khánh — có lẽ là nhân-vật có thể tồn-tại như một nghịch-lý vừa lẻ loi bên lề xã-hội, vừa sừng sững ngay chính giữa các thái-cực của thời-đại, lại có khả-năng ra tay tái-định-vị sân chơi, tái-định-nghĩa luật chơi của thời-đại ấy, cho dù công cuộc tái-tạo đó chỉ có thể nhận-diện được từ góc nhìn hồi-cố của hậu-thế. 

 

Bản thảo tri-thức & thời-cuộc được biên-tập trong chuỗi ngày tháng cuối năm 2021, đầu năm 2022. Mở đầu mục thảo-luận của tạp-chí là đối-thoại giữa Trần Minh-Khôi và Nguyễn Thụy-Đan về định-nghĩa và nội-hàm của nhân-vật “kẻ sĩ”. Đối-thoại này không phải là một cuộc trò chuyện hay phỏng-vấn giữa hai người lập-trường và lý-lịch như nhau, mà là một đối-thoại giữa hai thế-hệ hải-ngoại, tự-học (và học lại) tiếng Việt và Việt-văn trong môi-trường xã-hội Hoa-Kỳ. Những điều chúng tôi cùng nhau trao đổi, dù là ngoại-lệ trong cộng-đồng hải-ngoại hay không, cũng đã đóng góp một phần vào diễn-ngôn Việt-kiều thế-kỷ 21. Đọc bài Kẻ sĩ trong xã-hội Việt-nam của Trương Vũ, văn-phong bình-dị mà công-tâm, thiết-tưởng tác-giả cũng đã gửi gắm không ít cảm-khái vào những nhận xét về xã-hội Việt-nam thời cận-đại và đương-đại. Tiếng nói của những bậc tiền-bối đã thân-lịch hưng-vong-sử của đất nước, bao giờ cũng có điều để suy gẫm, nếu không nói là để soi gương. Tuy-nhiên, Kẻ Sĩ không chỉ dành riêng cho tác-giả người Việt. Cao Văn-Bân, người tôi may mắn được gọi là đồng-nghiệp, đã rất sốt sắng nhận lời cộng-tác viết bài bằng Anh-văn và Trung-văn, chúng tôi vừa dịch vừa trao đổi với tác-giả để thực-hiện một bản dịch vừa trung-thành với bổn-ý tác-giả, vừa giữ được văn-phong nguyên-văn. Cao-quân là chuyên-gia về văn-học Âu-châu thời Phục-hưng, am-tường cổ-văn Tây-phương, một lĩnh-vực còn rất sơ sài và xa lạ đối với phần lớn giới tri-thức Việt-nam. Bài tiểu-luận của Cao-quân về giáo-dục kinh-điển có phần nhập-thời, đặc-biệt là vì những năm gần đây phong-trào “giáo-dục khai-phóng” cũng đang được hưởng-ứng đáng kể ở hải-nội. 



Hai bài tiểu-luận của Nguyễn Duy-Minh và Nguyễn Quốc-Vinh về lịch-sử Việt-nam bổ-sung lẫn nhau, một điều xảo-hợp rất đáng để độc-giả ngoạn-vị và tiềm-tâm suy nghĩ để khởi-phát những ý-tưởng và vấn-đề đã được nêu lên trong bài. Tiểu-luận của Nguyễn Duy-Minh mang tính dẫn-nhập một số khung khái-niệm (conceptual frameworks) hữu-hiệu và hết sức cần thiết để nhập-môn quốc-sử. Bài viết của Nguyễn Duy-Minh đã đề-cập một số khuynh-hướng của những sử-gia đương-đại, vừa hải-ngoại, vừa hải-nội, vừa ngoại-quốc, khi tiếp-cận lịch-sử trung-đại. Thỉnh thoảng trong diễn-ngôn đại-chúng hải-nội vẫn rộ lên những tranh-luận về cải-cách giáo-dục, đặc-biệt liên-quan đến việc dạy chữ Hán trong chương-trình giáo-dục phổ-thông. Một luận-điểm thường gặp là dạy chữ Hán sẽ giúp giới trẻ tiếp-cận sử-liệu lịch-triều, đọc hiểu nguyên-văn, không phụ-thuộc vào bản dịch. Không bàn gì về bề đắc-thất của chủ-trương dạy chữ Hán, riêng lập-luận này đã làm ngơ đi một sự-thật bất-tiện rằng bản-thân những sử-liệu ấy, đặc-biệt cái gọi là “chính-sử”, dù có đọc hiểu mặt chữ Hán-tự, cũng chưa chắc đã có đủ kỹ-năng về lý-thuyết để giải-mã và xử-lý những nội-dung quá-bán mang tính tưởng-tượng (imagined) và tu-từ (rhetorical). Bài Nho-giáo và sĩ-phu Bắc-hà thời mạt-vận cuối thế-kỷ XVIII của Nguyễn Quốc-Vinh có thể xem như một nghiên-cứu trường-hợp (case study) về lịch-sử tư-tưởng Đàng Ngoài thế-kỷ 18, thể-hiện được sự cân bằng giữa lý-thuyết và văn-bản-học, vừa tài-tình, vừa chặt chẽ. Nguyễn Quốc-Vinh đã lâu năm ra đền vào gác tháp ngà học-giới, bài viết này cũng chỉ thể-hiện được một góc phiến-diện sự-nghiệp nghiên-cứu của ông về giai-đoạn Lê-mạt, Tây-Sơn, Nguyễn-sơ. Bút-lực sung-mãn của ông là phương-tiện truyền-đạt những ý-tưởng và lập-luận mang tính lý-thuyết vừa trừu-tượng, vừa phức-điệu — chưa phải là kẻ bụng chứa muôn pho sách ắt chẳng thể lường kịp vậy. 

 

Rõ ràng, nội-dung và những người cầm bút viết cho Kẻ Sĩ có khuynh-hướng học-thuật nhất-định. Tuy-nhiên, Kẻ Sĩ không phải là một tạp-chí học-thuật, không đặt ra những giới-hạn hay tiêu-chuẩn máy móc về nội-dung bài viết hay văn-bằng người viết. Ngược lại, Kẻ Sĩ chính là đất dụng-võ cho những tiếng nói hoặc bị lấn át trong diễn-ngôn học-giới, hoặc bị loại-trừ ra khỏi diễn-ngôn chính-thống của các cơ-chế quyền-lực vô-sở-bất-tại. Tôi khó có thể nghĩ ra một tạp-chí khác lại có được một bài như Chí-sĩ ngoài thời-cuộc của Đoan-Trang, trong đó những dòng tư-tưởng trung-đại, cận-đại, và đương-đại đều gặp gỡ và đan xen lẫn nhau vừa tự-nhiên, vừa thuyết-phục. Trong bài này, chuyển-hướng trung-đại tôi đã nhắc sơ qua ở trên, còn được sử-dụng để làm lăng kính diễn-giải văn-học Việt-nam Cộng-hòa và hải-ngoại, một hướng tiếp-cận còn nhiều hứa hẹn chưa được khai-thác toàn-diện. Như một hiện-thân của kẻ sĩ bên lề thời-cuộc trong bài của Đoan-Trang, Nguyễn Minh-Nữu ôn lại kỷ-niệm một thời làm báo-chí Việt-văn ở vùng Washington D.C. bằng văn-phong phác-thảo truyền-thần thực-tình, thực-cảnh một thời đã lùi vào quá-khứ cộng-đồng và văn-đàn hải-ngoại. Theo Benedict Anderson, báo-chí và văn-hóa đọc nảy sinh ra từ báo-chí là một trong những tiền-đề thiết-yếu để tạo nên và duy-trì ý-thức cộng-đồng tưởng-tượng (imagined community) giữa các cá-thể tuy không có quan-hệ huyết-thống hay địa-phương với nhau, song vẫn chia sẻ được cùng những trải nghiệm và thực-tiễn đọc cùng một ngôn-ngữ viết. Tuần-báo Văn Nghệ của Nguyễn Minh-Nữu chẳng phải đã một thời cát-cứ một sân chơi nhỏ trong không-gian văn-tự được Lê-thị Huệ mệnh-danh là “Vương-quốc tiếng Việt hải-ngoại” sao? Bài Theo gót Nguyễn Trường-Tộ của Nguyễn Tuấn-Huy là tiểu-luận kết-thúc mục thảo-luận của tri-thức & thời-cuộc, tuy chưa đi sâu vào bối-cảnh lịch-sử của Nguyễn Trường-Tộ, song cũng nêu lên vài quan-điểm khả-thủ về nhân-vật signum contradictionis này. Nguyễn Trường-Tộ là một trong một loạt tri-thức Công-giáo Việt-nam thế-kỷ 19 gây nhiều bối rối và bất-tiện cho các diễn-ngôn thượng-phong trong học-giới Việt-nam. Chúng ta thật-sự hiểu rất ít về lý-lịch của họ, vị-thế của họ trong tư-tưởng-sử triều Nguyễn. Thế nhưng, chưa hiểu về tầng lớp sĩ-phu Công-giáo này, tất cả những nhận-định của chúng ta về lịch-sử học-thuật Việt-nam 300 năm trở lại từ thời Lê-mạt đến ngày nay vẫn đốm đầy những lỗ hổng không thể bào chữa. 



Mục phê-bình của Kẻ Sĩ mở đầu bằng tiểu-luận của Hoàng Kim-Oanh viết về Tô Thùy-Yên. Chắc chắn, thấy tên tạp-chí Kẻ Sĩ, đa-phần độc-giả sống qua thời Việt-nam Cộng-hòa đã liên-tưởng đến Tô Thùy-Yên và nhà xuất-bản Kẻ Sĩ của ông. Tên tạp-chí tuy không lấy cảm-hứng từ Tô Thùy-Yên, song những so sánh, những chỉ-trích, những kỳ-vọng nảy sinh từ sự trùng-hợp này là điều chúng tôi vui vẻ đón nhận và sẵn sàng đối-thoại. Kể từ sau thập-niên 1990, Tô Thùy-Yên đã sớm trở nên một tượng-đài của văn-đàn hải-ngoại, vị-thế của ông trong văn-đàn miền Nam thời Việt-nam Cộng-hòa vì thế cũng đã được suy-tôn lên. Những người viết về Tô Thùy-Yên vốn dĩ đã nhiều, mà những điều được viết ra về thơ Tô Thùy-Yên cũng đã khôn xiết kể. Tiểu-luận của Hoàng Kim-Oanh có giá-trị ở chỗ trích-dẫn khá nhiều từ chính các bài phỏng-vấn và diễn-thuyết của Tô Thùy-Yên chia sẻ quan-niệm về thi-ca và thi-pháp. Thế-hệ chúng tôi càng xa nhân-vật lịch-sử càng có khuynh-hướng tìm hiểu và đánh giá theo những tư-liệu văn-bản hơn là giai-thoại hay giao-tình cá-nhân. Hướng tiếp-cận này chưa chắc sẽ dẫn đến những nhận-định chính-xác hay khách-quan hơn nhận-định của tiền-bối. Chúng tôi hết sức trông cậy ở thế-hệ tiền-nhiệm, những người trong cuộc, để giúp soạn nên những tư-liệu lịch-sử khẩu-truyền (oral history), những công-trình phê-bình được thảo nên bởi những cây bút sắc bén, tường-thuật những điều tâm-đắc chỉ có người thân trải mới nắm rõ. Bài phê-bình Nguyễn Mộng-Giác của Ban-Mai vô-ý-trung lại nêu lên một câu hỏi lớn cho phê-bình văn-học Việt-nam. Trong khi phê-bình Tây-phương đương-đại vẫn chịu ảnh-hưởng nhiều từ lý-thuyết la mort de l’auteur (“cái chết của tác-giả”) của nhà phê-bình Pháp Roland Barthes, phê-bình và văn-hóa đọc của độc-giả Việt-văn lại chịu ảnh-hưởng từ những lý-thuyết văn-chương hơi hướm trung-đại và cổ-điển, xem tác-giả và tác-phẩm là một, đọc văn qua người, hiểu người qua văn. Cứ ngu-ý, để tìm hiểu nguồn cơn sức sống dai dẳng của khuynh-hướng phê-bình này, chúng ta nên chất-vấn bản-thân các đối-tượng phê-bình. Phải chăng, có một dòng văn-chương Việt-nam Cộng-hòa và Việt-nam hải-ngoại có thể xem như một biến-tấu văn-chương trung-đại, vì thế cho nên chúng ta mới dễ dàng đọc và phê-bình qua lăng kính của thế-giới-quan trung-đại, cho dù bản-thân chúng ta nhiều khi chưa hiểu toàn-diện hay cụ-thể về luật-lệ của sân chơi này?

 

Thế nhưng, lại có những trường-hợp văn-nghệ khác, tưởng như có khuynh-hướng hoài-cổ, nhưng nội-dung kỳ-thực là sản-phẩm của một cái nhìn hồi-cố lệch thời và nặng tính Đông-phương-luận. Bài phê-bình hội-hoạ Mai Thứ của Đoan-Trang chắc chắn sẽ gây nhiều tranh cãi và dư-luận. Thế-giới hội-hoạ Việt-nam là một cõi văn-nghệ đa-dạng, có đủ bề dày và khoảng cách lịch-sử để chúng ta phê-phán và phản-biện tiền-bối bằng tinh-thần cầu-thị. Bài Quá-khứ ngày mai vốn là bài diễn-thuyết tôi đọc trong buổi kỷ-niệm Gió-O 20 Năm Nắn Net tại đại-học Berkeley. Bài này đã gây khá nhiều tranh-luận, trong đó một phần không ít bắt nguồn từ việc hiểu lầm hoặc trích thiếu từ nguyên-văn bài diễn-thuyết. Nguyên-văn đầy đủ đã in trong số này để độc-giả tiện tham-khảo. 

 

Mục sáng-tác của tri-thức & thời-cuộc bao gồm thơ của Uyên-Nguyên, Huỳnh Liễu-Ngạn, và Phương-Vỹ, truyện ngắn của Nguyễn Minh-Nữu và Đặng Phú-Phong. Riêng đối với sáng-tác thơ, tên tuổi Uyên-Nguyên và Huỳnh Liễu-Ngạn có lẽ đều đã quen thuộc với độc-giả tạp-chí văn-nghệ hải-ngoại lâu nay. Phương-Vỹ tuy là một tác-giả trẻ hơn hai nhà trên có khi đến nửa thế-kỷ, nhưng thi-tứ và bút-pháp đều có chỗ khả-quan. Truyện ngắn của Nguyễn Minh-Nữu và Đặng Phú-Phong đều có âm-hưởng và sắc-thái hoài-cổ — đôi khi là về từ-vựng, đôi khi là về hình-ảnh, đôi khi là về những motif và cảm-khái được tác-giả gửi gắm vào truyện. Sự tồn-tại song-song của những lối viết thơ, viết truyện này trong cùng một thời-đại, trong cùng một ngôn-ngữ, trong cùng một tạp-chí, có lẽ cũng nên gợi lên không ít câu hỏi và ý-tưởng cho độc-giả. Trong số này lại có tranh của hai hoạ-sĩ Mạnh Ngô và Nguyễn Thanh-Vũ. Bức Vệt nắng nhà thờ của Mạnh Ngô xuất-hiện như một tuyên-ngôn thách thức trường phái lý-tính. Bảng màu cam, đỏ, vàng xâm-chiếm lẫn nhau, giằng xé lẫn nhau, vừa sáng láng, vừa nhuộm vẻ cổ-quái (grotesque). Tất thảy đều quy-tụ, và chịu khuất-phục trước mái giáo-đường ẩn-hiện trong vinh-quang dịu dàng. Thủ-pháp này cho thấy cảnh-giới tinh-tế trong cảm-thụ, vượt thoát khỏi những tham-vọng tầm-thường của hội-họa. Một bức tranh không đại-diện cho bất kỳ diễn-ngôn chủ-nghĩa nào, nhưng lại bao-hàm mọi tư-tưởng trong ý-niệm của bản-chất tự-nhiên. Hoàng hôn No. 1 của Nguyễn Thanh-Vũ lại là một bản prelude cho sự tái-sinh của mỹ-thuật Baroque và sự kế-thừa của một truyền-thống lâu đời trong văn-hóa Tây-phương tập-trung vào ý-nghĩa và sự hiện-diện của ánh sáng. Trong khi những tri-thức hồi đầu thế-kỷ 20 đã luống công loay hoay bao biện cho dân-tộc chủ-nghĩa bằng quan-niệm coi văn-hóa Tây-phương đơn-thuần là “văn-minh cơ-giới”, thì tinh-túy Tây-phương đã hiện-diện trong hội-họa Nguyễn Thanh-Vũ như một sự cảm-ứng ngỡ ngàng. Đọc lời đề của tác-giả, mới hiểu được chân-nguyên, rằng tâm-thế mặc-cảm của “văn-minh” lúa nước đã hoàn-toàn được thanh-trừng. Mỹ-thuật trở về nguyên-bản của nó, thay vì một diễn-ngôn về tinh-hoa văn-hóa Đông-Á, vốn là biểu-hiện của “tự-tôn mặc-cảm”. Hơn hết, những tác-phẩm hội-họa được giới-thiệu trong số này là điển-hình của tri-thức trong thẩm-mỹ, đại-diện cho sức sáng-tạo chuyển mình qua mỗi thời-cuộc.

 

Tạp-chí độc-giả đang chuẩn-bị đọc là sản-phẩm của một quá-trình lâu năm, một hành-trình gian-nan và không ít chướng-ngại. Tôi đã nhiều lần tự-vấn bản-thân, hỏi ý ban biên-tập, chúng tôi đang làm gì? Vì sao làm? Làm vì ai? Tạm-thời dẹp tất cả những lý-tưởng cao-thượng, những luận-điểm trừu-tượng sang một bên, thật lòng tôi cũng chẳng biết trả lời những câu hỏi đấy làm sao cho phải. Những việc nên làm, thường khi lại chẳng có một lý-do nào đủ thuyết-phục đối với kẻ hèn tin ngoài cuộc, lại chẳng có một lý-do nào đủ thiết-thực đối với người tự-tri trong cuộc. Lại mượn lời Hạng Hồng-Tộ, rằng: Bất vi vô-ích chi sự, hà dĩ khiển hữu-nha chi sinh? Không làm việc vô-ích, lấy gì cho qua ngày đoạn tháng đời người hữu-hạn?

Việt-Thạch Nguyễn Thụy-Đan

 

Đại-học Columbia, Nữu-Ước, Tiết Kinh-trập, Tháng 3/2022

________________________
Kẻ Sĩ là quý-san về văn, sử, triết do Nguyễn Thuỵ-Đan và văn-hữu chủ-trương.
Số 1, Xuân 2022 với chủ-đề "tri-thức & thời-cuộc" đã ra mắt độc-giả ngày 11.03.2022

Số 2 dự kiến sẽ ra mắt vào tháng 06. 2022
Độc-giả có nhu-cầu nhận tạp-chí có thể ghi danh tại đường link: https://forms.gle/YcpNat3sJA9Je9D87

--

Kẻ Sĩ – Quý-san văn-sử-triết 

Nguyễn-thuỵ-Đan và ban biên-tập chủ-trương.

Email: tapchikesi@gmail.com 

Facebook: https://www.facebook.com/tapchikesi

Instagram: @tapchikesi
Độc-giả có nhu-cầu nhận tạp-chí có thể ghi danh tại đường link: https://forms.gle/YcpNat3sJA9Je9D87