Wednesday, December 13, 2023

3154. Hoàng Kim Oanh PHẠM CAO HOÀNG, HẠT BỤI MỘT TRỜI ĐÔNG BẮC NHỚ THƯƠNG

 

Hoàng Kim Oanh

PHẠM CAO HOÀNG, HẠT BỤI

MỘT TRỜI ĐÔNG BẮC NHỚ THƯƠNG

Phạm Cao Hoang - Vẽ bởi Nguyễn Sông Ba

hỡi những nhịp cầu đen buồn bã
đã bao năm không nối được lòng nhau
thì thiên thu cũng hoài mong đợi
như cầu cao soi bóng đáy sông sâu
(Những nhịp cầu đen buồn bã, 1971)

Nhà thơ Phạm Cao Hoàng sinh năm 1949 tại Phú Thứ, Tuy Hòa, Phú Yên. Mảnh đất Tuy Hoà nắng gió, Đông giáp biển Đông, Tây và Bắc dào dạt sóng sông Hinh, sông Đà Rằng này đã thành không gian nghệ thuật trong nhiều sáng tác của ông. Thưở nhỏ ông đã học qua các trường: Tiểu học Phú Thứ, Trung học Bồ Đề (Tuy Hòa), Trung học Nguyễn Huệ (Tuy Hòa) - những ngôi trường tuổi thơ này không ít lần trở đi trở lại trong tâm thức nhớ thương mà chúng tôi sẽ đi sâu hơn ở phần sau. Pham Cao Hoàng rời quê, lần đi xa đầu tiên có lẽ là vào học Sư Phạm Qui Nhơn, rồi chuyển lên 3 năm học Đại Học Đà Lạt (chuyên ngành Triết Học Tây Phương. Không hiểu dun rủi sao, ông lại xuống Đại Học Sư Phạm Sài Gòn không theo Triết nữa mà chuyển sang chuyên ngành Anh Văn). Việc di chuyển này là do hoàn cảnh riêng, do chiến tranh và thời cuộc, việc học dở dang nhiều lần và phải học đi học lại nhiều lần. Văn bằng cao nhất: Cử Nhân Anh Văn. Từ 1969 đến 1999 dạy học qua các tỉnh Bình Thuận, Phú Yên, Lâm Đồng. Định cư ở Mỹ từ năm 1999 và hiện sống tại tiểu bang Virginia.

Từ năm 1969, Phạm Cao Hoàng đã có thơ đăng trên các tạp chí văn học nổi tiếng  ở Sài Gòn như: Văn, Bách Khoa, Vần Đề, Khởi Hành, Thời Tập, Ý Thức…phần lớn đó là những bài thơ ra đời trong tâm cảnh chiến tranh lửa đạn.

đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương
(Đi giữa chiến tranh, 1969) 

Quê hương và chiến tranh, đạn bom và đổ nát… như thế hệ mất mát của ông, những vết cứa chấn thương đậm nét trong thơ Phạm Cao Hoàng những năm trước 1975. Rất trẻ, 1969, 20 tuổi, chàng thư sinh Phạm Cao Hoàng đã từng cảm nhận nỗi đớn đau rạn vỡ hết sức chân thành và khắc khoải chua xót khát khao:

ai bắn vào hồn tôi trái nổ
đứt từng mạch máu nát tim tôi
vỡ vỡ chiều nay tôi sắp vỡ
chiến tranh chiến tranh bao giờ thôi
(Đi giữa chiến tranh, 1969)

Sau 1975, Phạm Cao Hoàng ngưng sáng tác và mãi đến năm 2005 khi định cư ở Hoa Kỳ mới cầm bút trở lại. Ngoài thơ và truyện ngắn, ông còn viết một số ca khúc. Ngày 10 tháng 4. 2012 nhà thơ đã hình thành trang Blog Phạm Cao Hoàng, sau này đổi thành Trang VHNT Phạm Cao Hoàng. Đây là nơi giới thiệu và lưu trữ các sáng tác của Phạm Cao Hoàng và bằng hữu. (Các bạn quan tâm có thể vào đọc toàn bộ sáng tác của ông thơ, văn, nhạc cũng như các bài viết về ông ở đây:

https://blogphamcaohoangtacgia.blogspot.com/2019/05/125-pham-cao-hoang.html)

Trong tuyển tập thơ-nhạc-họạ-giao cảm nhiều tác giả mới nhất mà ông là một trong 6 tác giả chính Chút tình đọng lại (phát hành tại Hoa Kỳ  tháng 10.2023) người đọc người nghe sẽ bắt gặp chân dung Phạm Cao Hoàng qua năm thi phẩm được sáng tác rải rác trong 20 năm trở lại đây: Trở về mái trường xưa (1999), Khi dừng lại bên dòng Potomac (2005), Mây trắng (2009), Scibilia ngày cuối thu (2014) và Mai kia tôi là hạt bụi (2014). Minh hoạ cho năm ca khúc này là 5 bức tranh cũng đầy ấn tượng của hoạ sĩ Trương Vũ mà tôi đã vô cùng xúc động khi mày mò tìm ẩn số trong tranh…

Cảm nhận đầu tiên: bài thơ nào cũng man mác buồn. Buồn. Và rất buồn…

Không nẫu nuột đớn đau vật vã mà lặng lẽ thấm vào mọi miền phế phủ. Tâm thức lưu lạc và trở về cứ ngưng đọng trong từng bóng chữ. Đọc lời thơ, nghe những giai điệu khi dịu dàng khi nức nở vút lên cả một trời Đông Bắc mênh mang cứ trải khắp hồn, tôi lại nhớ ngôi nhà bên dòng suối một buổi sáng mùa thu nhà văn Nguyễn Minh Nữu đưa đến vội trong sắc lá thu đang trở vàng vùng mơ mộng Virginia. Rời Việt Nam 1999, nhà thơ Phạm Cao Hoàng đã đi qua bao nhiêu giằng xé của kẻ buộc phải từ bỏ nơi chốn quê nghèo mái tranh đồng ruộng đói nghèo lam lũ có mẹ có cha gắn bó máu thịt cùng những tình thân đùm bọc náu nương. Vẫn không thôi thương nhớ đêm sương cao nguyên Đà Lạt một thời ôm giấc mộng yêu đầu cùng Cúc Hoa. Cho dù “đã đi và đã đến”, đã  “bên nhau thủy tận sơn cùng”, đã cùng tìm thấy dòng sông bình yên cuối đời bên nhau nhưng sao chưa bao giờ hồn không khoắc khoải… Có nhiều khi Ta vẫn là Ta đó. Ta hôm nay bình yên thong dong đề huề hạnh phúc trọn đầy không cầu ước gì hơn nữa. Nhưng vẫn có một Ta nữa sao cứ chạnh lòng thương mãi một Ta những ngày xưa rất xưa. Trường xưa. Người xưa. Thơ ấu xưa. Xa quá rồi. Thất lạc thật rồi. Một quê nhà yêu dấu. Một gốc phượng già, một cây bàng xưa. Người về chẳng còn ai ngoài ký ức nức nở:

ai còn, ai đi, ai nhớ?
cuối trời hiu hắt mây bay.
(Trở về mái trường xưa, 1996)

Lưu lạc đâu chỉ có nghĩa chỉ ở không gian vật lý rời xa nơi chốn cội nguồn. Lưu lạc ngay trong chính mình. Trong nỗi đau đớn, dằn vặt của con người trong quá trình kiếm tìm hạnh phúc, kiếm tìm ý nghĩa của tồn tại và cả những gì đã mất. Thơ Phạm Cao Hoàng mang đầy những vết thương lưu lạc ấy. Tự đối thoại xoáy sâu những chấn thương tâm hồn bởi cuộc phân ly quá lớn của đất nước, bứt ông ra khỏi ruộng khỏi đồng, khỏi núi, khỏi sông biển quê hương nặng tình cha nghĩa mẹ không sao nguôi quên, không sao đồng hoá được với hoàn cảnh mới hiện tại mà anh không phải không yêu mến để cứ đau đáu tâm thức quay về ám ảnh một kiếp tha hương. Lưu lạc cả ngay trong vô thức trở về. Bởi phía chân trời cũ yêu dấu xưa nơi được thiết tha gọi bằng hai tiếng quê nhà, nay chỉ còn:

buồn hiu hắt thương về chốn cũ
phía chân trời đã mịt mù xa”
(Khi dừng lại bên dòng Potomac, 2005).

Thời gian. Tuổi tác. Giấc mơ tâm tưởng ngày một rời tầm tay. Tôi không sao không nghẹn thắt lòng khi đọc những dòng kết này trong thơ ông:

giọt sương đọng suốt mười lăm năm
ừ, khóc đi em cho đỡ buồn
quê hương còn đó nhưng xa lắm
và biết ngày về kịp nữa không
(Scibilia, ngày cuối thu, 2014)

Ừ. Khóc đi em. Khóc đi. Ngày về. Ngày về… Quê hương còn đó. Xa lắm. Xa lắm. Và… kịp nữa không? Nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng đã tinh ý xoáy sâu vào tâm trạng này khiến người nghe không khỏi nức nở. Cả một trời khoắc khoải xót xa đọng lại mấy chữ rất thật, rất buồn cuối cùng.

Muốn trách. Muốn hận. Muốn thương. Muốn khóc.

Những dòng sông trong thơ Phạm Cao Hoàng cũng cứ thế trở đi trở lại trong tâm thức không bao giờ nguôi quên của ông. Văn hoá Đông Tây đều có sự gặp gỡ nhau ở quan niệm sông hay dòng sông là biểu tượng luân chuyển phong nhiêu của van vật. Sông cũng là biểu tượng của cái chết và sự đổi mới. Gaston Bachelard từng nói “Dreaming by the river, I dedicated my imagination to water, to clear, green water, the water that makes the meadows green.”[1] (Mơ mộng bên dòng sông, tôi dành trí tưởng tượng của mình cho nước, cho dòng nước trong xanh, dòng nước làm cho đồng cỏ xanh tươi).  Phạm Cao Hoàng dường như không chỉ dành trí tưởng tượng mà còn gửi trọn tất cả ký ức yêu thương để mơ mộng bên dòng sông hoài niệm đôi bờ quạnh hiu những nhớ, những thương nén chặt cõi lòng từ tiếng mẹ ầu ơ:

ngày đi về phía mặt trời
tôi nghe tiếng gọi của người năm xưa
và nghe tiếng mẹ ầu ơ
bên dòng sông với đôi bờ quạnh hiu
(Mây trắng, 2009)

Và không ít lần, hay có thể nói là nỗi đau thường trực dằn vặt trong anh “một quê nhà bỏ lại sau lưng”:

tôi đi và tôi đi mãi
quê nhà bỏ lại sau lưng
quê người gian nan vất vả
đường xa mây khói mịt mùng       
(Mai kia tôi là hạt bụi, 2014)

Nghe đi nghe lại những bài thơ của Phạm Cao Hoàng đuợc nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng thổi buồn vào từng nốt nhạc, tôi ngỡ buồn xưa về chiếm cả không gian thời gian. Thêm một cảm thức trở về. Không tơi tả mà vẫn đau đáu ngoái về…

Đâu đành lòng ly biệt. Khói ngày xưa vẫn vương. Sương ngày xưa còn đọng. “Ngày về nhớ lúc ra đi/biển gào lên khúc biệt ly sao đành” (Mây trắng, 2009). Trong hồn tôi. Trong hồn em. Mãi còn đó “Một chút mây trời Langbiang” thổn thức như ngày nào “những bước chân về đêm cao nguyên” (Scriblia ngày cuối thu, 2014). Thậm chí bất cứ thời gian nào trong bốn mùa trời đất, những chiều thu, hay những đầu đông…chỉ một áng mây bay vẩn vơ cùng tự nhìn thấy quanh mình đó là mây với hồn thơ nặng tình quê hương đất nước cho dù nhà thơ đã buộc phải rời xa, là cả một trời thương nhớ thắt lòng:

những chiều mùa thu lá rụng
những ngày lạnh buổi đầu đông
nhìn mây bay về cố xứ
nhớ quê hương đến thắt lòng.
(Mai kia tôi là hạt bụi, 2014)

Nỗi niềm tuyệt vọng ấy chỉ còn dồn nén trong thơ, mượn thơ chuyên chở tiếng lòng khoắc khoải ôm kín niềm khát khao trở về cho dù chỉ còn là hạt bụi cuối con đường sinh tử vẫn chưa thôi khát khao lang thang bay về phía có quê nhà…

bây giờ còn mong chi nữa
tôi đi ở cuối con đường
mai kia tôi là hạt bụi
bay về phía Thái Bình Dương
(Mai kia tôi là hạt bụi, 2014)
 

Vâng. Chúng ta đều đang ở cuối đường…
Thơ buồn như lời từ tạ.
Nhạc trầm như nén tiếng lòng đau.
Tranh thổn thức một trời giông bão trong tim.

Phạm Cao Hoàng đâu chỉ nói lên nỗi đau riêng của một mình ông. Tâm thức lưu lạc và trở về đã trở thành vô thức cộng đồng ngàn đời của dân tộc Việt từ thuở hồng hoang, từ buổi mẹ về với cha, từ cuộc loạn ly một phần tư thế kỷ điêu linh thất lạc cõi người… Những chấn thương cộng đồng một thời binh lửa hằn sâu trong ký ức dân tộc, giờ đây, qua thơ - nhạc Phạm Cao Hoàng - Nguyễn Quyết Thắng và nhiều ca khúc chính ông tự phổ thơ mình đang được tái diễn trong số phận cá nhân …

Với nhà thơ Phạm Cao Hoàng, tôi biết thơ trước khi biết người. Mà lại biết trong một hoàn cảnh thật buồn: Ngày đưa nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn đến đài hoá thân ở Bà Rịa, 4.8.2016. Trong khi chờ xe tang di quan từ Phan Thiết qua, tôi và nhà thơ Vũ Trọng Quang ngồi cà phê ở một quán cóc vắng vẻ có phần xiêu vẹo trước cổng Trung tâm hoả thiêu. Chung quanh vẫn bạt ngàn lau lách. Trước mặt, vẫn chập chùng những đỉnh núi cao thấp. Vũ Trọng Quang tức cảnh, đọc chầm chậm hai câu thơ:

núi ngó anh và anh ngó núi
núi đụng trời, anh đụng nỗi đìu hiu.
(Nhớ Cúc Hoa, 1974)
 
Lúc ấy, tôi không biết đó là hai câu trong bài Nhớ Cúc Hoa tác giả viết cho người vợ, người tình trăm năm son sắt của ông, và cũng chỉ vừa kịp biết đến tên tác giả là Phạm Cao Hoàng. Nhưng hai câu ấy lại đeo đuổi chạm vào hồn tôi, khiến tôi liên tưởng cả một trời trống vắng cô đơn chất ngất của chủ thể trữ tình mà chỉ có núi cao vút lặng yên đối diện mới sánh cùng. Lúc ấy, trong cảm thức trống vắng của văn học miền Nam từ sự ra đi của Nguyễn Bắc Sơn, của Dương Nghiễm Mậu trước đó vài ngày, tưởng như những bóng núi đã in đậm vào văn chương nước nhà nay đã mờ xa vào cát bụi. Trời đổ mưa. Trên đường về, hai câu thơ của anh dẫn tôi lan man nhớ đến một bóng núi kì vĩ khác - Ức Trai Nguyễn Trãi- đã nói 600 năm trước, qua thủ bút của nhà văn Dương Nghiễm Mậu: "Nước chảy dễ gì trôi bóng núi".

Vâng. Nước chảy cứ chảy. Dễ gì trôi...
Một sự khẳng định nhân cách kẻ sĩ trong ô trọc dòng đời.
Người xưa, người nay… rồi cũng đi vào cõi mộng…
Nhưng tiễn các anh đi rồi, nhìn lại lòng nghe quá đỗi đìu hiu...
 
Đó là phút đầu “gặp gỡ” Phạm Cao Hoàng của tôi.

Về nhà, nỗi đìu hiu của Phạm Cao Hoàng vẫn không ngừng ám ảnh, tôi đã search google tên tác giả để tìm đọc toàn bài có hai câu thơ ấy. Tên bài thơ nói “Nhớ Cúc Hoa” mà sao tôi nghe là cả một tâm cảnh mất mát hiện sinh trong bơ vơ kiếp người:

rừng vi vút những đêm gió thổi
bóng anh chìm với bóng hư vô
 
trong một hiện thực nghiệt ngã, bi đát đến mức:

anh sống dở và anh chết dở
giữa núi rừng cao ngất ngàn năm.

Đem đọ lòng mình với tự nhiên, người thi sĩ ấy chả trách sao đau đáu mãi cái tôi hữu hạn trong mênh mông cao ngất ngàn năm, triệu năm… của cõi vô cùng.

Ấn tượng thứ hai của tôi là về bài Hành phương Đông qua giới thiệu của nhà thơ Phạm Ngọc Lư lúc anh ấy còn sinh thời khi hai anh em chat về Biên cương hành. Hành là một thể thơ cổ phong gân guốc gốc tích từ Trung Hoa, không dễ viết chút nào cả về kỹ thuật lẫn nội dung mà lâu nay hiếm người đặt bút, và thường là những bài dài hoặc... rất dài[2]. Hành phương Đông của Phạm Cao Hoàng (40 khổ thơ 4 câu) có thể được coi là bài hành dài nhất thi ca Việt: 160 câu. “Hành” tức là đi, nhịp đi, quân hành, diễn hành, lưu thủy hành vân..., nội dung thường chất chứa một tâm sự bi hùng, bi tráng, khí khái, khinh bạc... từ đầu đến cuối. Âm hưởng từ giọng thơ bi tráng trong Hành phương Nam của Nguyễn Bính, Hành phương Đông của Phạm Cao Hoàng ám ảnh người đọc bởi tâm thức lưu lạc của kẻ “sống nửa đời ta chẳng thấy quê hương” thất chí giữa dòng đời khi hoài bão vẫn chưa tan:

mây trắng quá và chiều tê tái lắm
biết về đâu giữa lúc hoàng hôn phai
(Hành Phương Đông, 1971)

Chàng tuổi trẻ xót xa tri nhận “bụi dẫu có ngàn năm chờ đợi/cũng ngậm ngùi tan với hư không” tự ví mình như “bóng chim nào lạc cánh cuối trời xa” mà khắc khoải “đất rộng quá biết đâu là cố lý” đành chấp nhận một kết cuộc: “ta cùng ngươi quay với bóng tang thương”. Khúc hành ấy Phạm Cao Hoàng viết năm 22 tuổi.

Không có ý định đi sâu giá trị bài Hành phương Đông của Phạm Cao Hoàng trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh cảm nhận của tôi khi tiếp cận thơ ông. Nỗi niềm lưu lạc đã trở thành tâm thức lưu lạc hằn sâu trong từ Đời như một khúc nhạc buồn (1972), Tạ ơn những giọt sương (1974) đến những sáng tác sau này trong Mây khói quê nhà (2010), Mơ cùng tôi giấc mơ Đà Lạt (truyện, 2013) và Đất còn thơm mãi mùi hương (2015). Bên cạnh đó, ngay trong các tiêu đề, tập thơ mới nhất vừa được tái bản, tên đất tên làng tên quê tên phố cứ bàng bạc hiện lên mặt thứ hai của cảm thức lưu lạc: nỗi khao khát trở về. Đây là hai mặt hoà quyện cho người đọc một cảm giác da diết xót xa khó tả. Có 3 không gian địa lý luôn thường trực xuất hiện dày đặc trong thơ Phạm Cao Hoàng cả trong thực lẫn mộng, trong thời gian hiện tại lẫn chiều dài nỗi nhớ: Tuy Hoà, Đà Lạt và Virginia. Nhưng hiếm có bài nào tách bạch, cứ như trong vô thức, cảm xúc của nhà thơ cứ tuôn trào “nghe mưa nơi này lại nhớ nơi xa” (Trịnh Công Sơn). Vô tình hay hữu ý, tôi cho rằng đó là đặc điểm thơ Phạm Cao Hoàng.

Ngoài tình yêu vô bờ dành cho những miền đất quê hương vương vấn và người vợ hiền yêu thương mà người đọc nào cũng đều cảm nhận cụ thể qua từng ký hiệu hình ảnh, ngôn từ, đọc 35 bài nhận định về thơ Phạm Cao Hoàng trên trang VHNT của ông, tôi vẫn thấy đâu đó có một chút tâm hồn Phạm Cao Hoàng dường như còn bị lãng quên. Tôi mang mang thấy nỗi đau đớn chua chát của ông trong Xin cho tôi được làm người Việt Nam dù ông nhận thức rõ thân phận người Việt Nam không tự do, cũng không được tôn trọng nhân phẩm bằng… một con ngỗng Bắc Mỹ, chỉ một con đi lạc mà Thị trưởng mở tiệc ăn mừng khi tìm được nó trở về. Hay trong Bò và Người, với thủ pháp ẩn dụ và nhân hoá, tôi thấy một Phạm Cao Hoàng với bao nhiêu là dồn nén, phẫn uất trước hiện thực, trào qua từng bức tranh phi lý trong quan hệ người với người cầm thú dã man. Đàn bò tội nghiệp bị hành hạ đòn roi, lao động cật lực, vắt sữa kiệt sức… nhưng trong nghiệt ngã, vẫn: “Đêm, chúng tôi nằm trong chuồng/mơ cùng nhau giấc mơ tự do”…

Năm bài thơ phổ nhạc của Phạm Cao Hoàng trong tuyển tập Chút tình đọng lại chính là một phần đậm nét của tâm thức lưu lạc và khao khát trở về này trong hồn thơ Phạm Cao Hoàng đã được Nguyễn Quyết Thắng hát thành năm ca khúc nhẹ buồn, yêu thương lắng đọng mà tha thiết xót xa… Theo tôi được biết, Nguyễn Quyết Thắng đến với thơ Phạm Cao Hoàng muộn hơn so với Đoàn Văn Khánh và Nguyễn Minh Nữu - hai nhà thơ từng cùng nhạc sĩ một thời Du ca sôi nổi, một thời tuổi trẻ hoa mộng nồng nàn. Bắt đầu phổ thơ Phạm Cao Hoàng từ năm 2022, ngay sau bài đầu tiên Khi dừng lại bên dòng Potomac, nhạc sĩ  đã nhận được một tập thơ của Phạm Cao Hoàng. Và, cũng chính tập thơ này đã bật lên một tương giao đặc biệt cảm động về mối tình tuyệt đẹp thuỷ chung của Phạm Cao Hoàng- Cúc Hoa. Có lẽ, bởi Nguyễn Quyết Thắng nhìn thấy trong đó chính mối tình sắt son cổ tích của ông và một nửa duy nhất của ông: ca sĩ Minh Chiến. Càng đọc, càng khám phá ra cái chất Nồng Ấm, Sâu Lắng một cách mộc mạc, Trữ Tình kín đáo mà đằm thắm thiết tha trong thơ Phạm Cao Hoàng, ngỡ như nói dùm ông bao điều giấu trong tiềm thức chưa viết nên lời. Nhạc Nguyễn Quyết Thắng cũng đã thay đổi không còn các nhịp điệu dồn dập rộn ràng thời Du Ca nữa mà thiên về một cái gì nhẹ nhàng hơn, khám phá mới hơn về chất trữ tình, bàng bạc xót xa, luyến nhớ không cùng…

Lần này, nói theo Nguyễn Minh Nữu, thơ Phạm Cao Hoàng đã cho hồn nhạc Nguyễn Quyết Thắng nở hoa.

Ở góc độ tình thân, một trong những duyên hạnh ngộ khác với nhà thơ Phạm Cao Hoàng là cuộc gặp gỡ tình cờ năm 2016. Nhân dịp anh chị về Sài Gòn, tôi đã lần đầu tiên gặp anh chị cùng nhà thơ Vũ Trọng Quang. Những gì tôi đọc về Phạm Cao Hoàng qua lăng kính bạn bè hoàn toàn đúng như vậy. Một nhà thơ-nhà giáo nhẹ nhàng, tinh tế, thân tình nhưng kiệm lời và có chút gì đạo mạo, chút gì xa vắng… Nhà thơ và chị Cúc Hoa cũng đã đến toà soạn Quán Văn tạm biệt anh em trước khi quay về quê hương thứ 2. Và lần đó, tôi cũng bất ngờ khi nghe ông kể về bức thư cuối cùng của hoạ sĩ Đinh Cường nhờ Nguyễn Minh Nữu mang về Sài Gòn, đó là mấy dòng trong tấm card-postal anh gửi cho tôi. Xúc động vô cùng. Vài tháng sau đó, Quán Văn số 40 ra mắt tháng 10.2016 cũng đã dành hẳn một chủ đề Mây khói quê nhà để giới thiệu chân dung văn học Phạm Cao Hoàng qua cái nhìn và cách cảm nhận của mười tác giả trong ngoài nước[3] được mọi người đón nhận bằng nhiều đồng cảm, trân quý.

Nghĩ về Phạm Cao Hoàng, ký ức tôi bỗng cứ kéo quay lại thước phim lần gặp gỡ tháng 10.2019 ở Virginia. Với sự ân cần chu đáo của ông và nhà thơ Nguyễn Minh Nữu cùng thịnh tình yêu mến Sài Gòn của anh chị em văn nghệ sĩ, thân hữu lạ, quen, hay lần đầu gặp mặt, tôi như người em nhỏ trong vòng tay ấm áp của những anh chị tên tuổi trong giới văn chương vùng Đông Bắc. Hoàn toàn ấm áp thân tình, không chút e dè xa cách nghi thức xã giao. Tôi biết, đó là nhờ “cái bóng” của Phạm Cao Hoàng và Nguyễn Minh Nữu…Tôi vẫn nhớ ngôi nhà xinh xắn có dòng suối uốn quanh mà tôi đi qua nhiều con đường rợp lá vàng lá đỏ đang chuyển mùa của các con đường mùa thu Virginia để đến. Nơi đó có nụ cười hiền của chị Cúc Hoa, có giọng nói ấm áp như tôi từng nghe lần đầu ở Sài Gòn một lần gặp chị. Chỉ ánh mắt và giọng nói ấy, tim tôi bỗng bình yên thân thiết lạ thường. Một đoá hồng vàng lẻ loi nở chếch ở cổng vào nhà thật dịu dàng như lời chào lặng lẽ ấm áp…

Nghĩ về Phạm Cao Hoàng, tôi lại nhớ đến Trang Văn học nghệ thuật Phạm Cao Hoàng công phu, trang nhã, tin cậy với nhiều cây bút tên tuổi và 228 tác giả trong ngoài nước, khắp các châu lục tham gia với hơn 5000 bài viết đủ thể loại là một kho tư liệu quý mà những ai muốn tìm hiểu văn học miền Nam, văn học hải ngoại đều không thể không biết. Công phu và tâm huyết biết bao để duy trì kho sách mở tuyệt vời này. Và kết những dòng này, tôi muốn nói về một điều rất nhỏ mà ý nghĩa lại vô cùng. Trang Web Phạm Cao Hoàng làm chủ nhưng những vị trí trang trọng nhất ông có ô riêng dành cho những Đinh Cường, Trương Vũ, Ngô Thế Vinh, Thân Trọng Sơn, Trần Hoài Thư,… - những người bạn tài hoa đặc biệt mà hẳn ông quý trọng mến thương cả đức lẫn tài; tiếp đến là mục các tác giả khác (228 vị), rồi mới đến ba chữ viết tắt tên mình: PCH nhỏ xíu ở vị trí cuối cùng khiêm tốn nhất trên trang chủ mà những ai lần đầu, vô tình, có thể không chú ý, lướt qua…

Người Nhật Bản có một câu thành ngữ dân gian rất ý nghĩa: “Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu”. Bông lúa càng trĩu hạt bao nhiêu sẽ càng cúi đầu thấp bấy nhiêu. Xúc động. Cái góc nhỏ khiêm nhường ba chữ PCH trên trang web của ông thật đẹp, thật đáng để tôi ngưỡng mộ, trân quý cúi đầu…

HOÀNG KIM OANH

Thị Nghè, 12.2023


[1] https://quotefancy.com/quote/1077271/Gaston-Bachelard-Dreaming-by-the-river-I-dedicated-my-imagination-to-water-to-clear-green

[2] Ngắn nhất là Tống biệt hành của Thâm Tâm (22 câu), Khúc Nam hành của Tuờng Linh (32 câu - 8khổ) Hành phương Nam của Nguyễn Bính (40 câu), Nước mặn của Viên Linh (52 câu), Biên cương hành của Phạm Ngọc Lư (66 câu), Trường Sa hành cùa Tô Thuỳ Yên (64 câu). (hko)

[3] Có thể đọc 10 tư liệu này trong 35 bài hiện đã cập nhật trên trang VHNT Phạm Cao Hoàng. https://blogphamcaohoangtacgia.blogspot.com/2019/05/125-pham-cao-hoang.html