3688. PHẠM CAO HOÀNG Thơ của người đến từ Sơn Hòa


Nhà thơ Trần Huiền Ân
Photo by Phạm Cao Hoàng (Tuy Hòa, 2012)


Trần Huiền Ân sinh năm 1937 tại Sơn Hòa, Phú Yên. Ông thuộc thế hệ lớn lên trong kháng chiến chống Pháp và trưởng thành sau khi đất nước bị chia cắt. Ông sớm tham gia vào dòng văn học miền Nam với những bài thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa và tuần báo Tuổi Xanh. Nhiều bài thơ của ông được soạn giả Bùi Văn Bảo sử dụng làm bài học thuộc lòng cho học sinh ở các lớp cuối cấp của bậc tiểu học trong các bộ sách giáo khoa VIỆT NGỮ TÂN THƯ (1961) và TÂN VIỆT VĂN (1964). 

Về bút pháp, ông là người cẩn thận từng câu từng chữ. Chữ nghĩa của ông đơn giản, dễ hiểu, gần gũi với đời thường, kỹ thuật điêu luyện, ý tưởng sâu sắc. Sở trường của Trần Huiền Ân là thơ vần 7 chữ hoặc 8 chữ. Thơ ông gieo vần rất chuẩn mực nhưng khi đọc chúng ta thấy câu chữ tự nhiên, ý tưởng mạch lạc, không gượng ép. Trần Huiền Ân làm thơ giống như một người kể chuyện. Nhiều bài thơ của ông có dáng dấp cúa truyện rất ngắn, trong đó có cốt truyện, có thông điệp ông muốn nhắn gửi. Ông sử dụng rất nhiều hình ảnh để minh họa cho cảm xúc nên nhiều bài thơ của ông có dáng dấp của một bức tranh. 

Chủ đề chính trong thơ Trần Huiền Ân là QUÊ HƯƠNG. Có thể nói, nhắc đến Trần Huiền Ân là nhắc đến những bài thơ về quê hương -  những bài thơ làm cho người đọc yêu đất nước, xóm làng  của mình hơn. Ông là một trong những người đi tiên phong trong việc hình thành dòng thơ quê hương này. Những ai từng học tiểu học vào thập niên 60 hẳn còn nhớ bài thơ “Chuyến đi dài”. 

CHUYẾN ĐI DÀI
 
Tuổi niên thiếu vốn nhiều mơ lắm ước
Tôi đã nuôi trong trí chuyến đi dài
Biết bao giờ cho thỏa được lòng trai 
Chân bé quá, không mang hài vạn dặm
Để ngày tháng vơi đôi phần thăm thẳm
Bản đồ đây tôi dự ước hành trình…
 
Giữa phương Nam biển dội sóng thanh bình
Tôi sẽ lấy Côn Sơn làm khởi điểm
Sau giây phút để tâm hồn mặc niệm
Lắng không gian nghe tiếng gọi tiền nhân
Đường thênh thang chí quyết cũng xem gần…
 
Đây Phú Quốc mùi quê hương tỏa rộng
Hà Tiên với cảnh non chùa thạch động
Kiên Giang còn Nhật Tảo sáng ngàn năm
Mắt cô em Cái Sắn tựa trăng rằm
Bao la quá ruộng Cà Mau xếp gợn
Thuyền độc mộc xuôi trên dòng Cái Lớn
Xuyên kênh đào về trẩy hội Tây Đô
Lòng Hậu Giang bát ngát tận đôi bờ
Cùng hẹn với sông Tiền trôi chậm rãi
Sen Đồng Tháp phơi màu tươi thắm mãi
Núi Điện Bà che rợp bóng tôn nghiêm
Trăng Sài Thành e thẹn dưới đèn đêm
Hai ngả nước ai Đồng Nai, Gia Định?
Bờ Long Hải chiều êm rây nắng tịnh
Bưởi Biên Hòa ngọt lịm khách miền xa
Trà B’Lao sưởi ấm nếp môi già
Đà Lạt gió quyện vầng mây thác nước
Rừng Ban Mê suối đờn nai khẽ bước
Buồm lao xao Phan Thiết rộn niềm vui
Ngọn Tháp Chàm cô quạnh tiếc ngày trôi
Tàu vạn quốc về Cam Ranh chen chúc
Thùy dương rủ Nha Trang thêm hiền thục
Đá Bia còn nguyên nét triện người xưa
Bãi Tam Quan cát mịn ấp chân dừa
Guồng xe tưới sông Trà gieo bụi trắng
Ngũ Hành ngắm mặt Hàn Giang phẳng lặng
Hải Vân đài cây vút tuyệt đường chim
Nửa khuya chuông Thiên Mụ vọng êm đềm
Cả Hương Ngự la đà theo nhịp trúc
Cầu Hiền Lương…
                           sẽ nối tình Nam Bắc
Xóa nhòa đi dòng phân cách thương đau
Từ Nam Quan cho đến mũi Cà Mau
Liền một dải
                  Và chuyến đi lại tiếp…
 
Men theo bóng dãy Trường Sơn trùng điệp
Sóng Thái Bình reo đón bước phiêu du
Qua Đèo Ngang nghe nhạc gió vi vu
Tới Thanh Hóa lúa vàng đùa trong nắng
Dân hoan lạc nhờ được mùa Nông Cống
Đem nén nhang vào lễ tạ Đền Sòng
Cầu Hàm Rồng chênh chếch bắc ngang sông
Trên dòng Mã nước in màu sông núi
Dìu dịu lúa non bình nguyên Nhị Thái
Tình ngọt ngào như nhãn trại Hưng Yên
Gió Đồ Sơn xua sóng bạc dịu hiền
Cửa Nam Triệu nước hai dòng mặn nhạt
Chiều Hạ Long mây vương tình man mác
Với chân trời sắc nước lẫn màu xanh
Sóng nhấp nhô vờn khe đá chông chênh
Thuyền nhẹ lướt, phải đây miền nước nhược?
Động Đầu Gỗ ánh chập chờn huyền hoặc
Hang Hanh nghe khoan nhặt nhạc âm vang
Đây Hòn Gai, đây Bái Tử, Hạ Long
Mà đâu bóng rồng thiêng sa hạ giới?
Núi Truyền Đăng thơ đề còn in mãi
Ngược sông Thương lên trẩy hội Tam Thanh
Chàng ra đi theo tiếng gọi quân hành
Để thiếp phải tháng năm trong mòn mỏi
Nàng Tô Thị đứng trông về biên ải
Ngàn năm còn chờ đợi bóng chinh phu
Chim Hà Giang buông nhịp hót “bắt cô”
Trên bến nước sông Lô còn tiếng hát
Nương bóng Hoàng Liên cây cao bóng mát
Rồi xuôi về theo sóng nước sông Hồng
Mây chịu tang Yên Bái có còn không?
Và Yên Thế còn tấm gương Đề Thám?
 
Bắc Ninh đẹp nhờ cảnh chùa Long Giáng
Sơn Tây buồn vì mây quyện Ba Vì
Đền Hùng mờ sương khói tỏa uy nghi
Non sông Việt nhờ tay ai dựng lập?
Sớm Hòa Bình, Chợ Bờ vui vẻ họp
Bến sông Đà dòng nước chảy cong cong
Tháng hai về xem trẩy hội chùa Hương
Hay trở bước lên thăm đền Thánh Gióng?
Về Hà Nội một ngày thu gió lộng
Cảnh núi Nùng sông Nhị dấu ngàn xưa
Sóng Hồ Tây gợn bởi bước Hai Bà
Hay là bởi trâu vàng xưa nhớ mẹ?
Đống Đa kia mồ chôn muôn vạn kẻ
Hồ Gươm còn thức ngủ bóng rùa thiêng?
Cầu Long Biên mấy nhịp bắc trường giang
Ô năm cửa mở đón chào lữ khách…
 
Đây Thăng Long bụi đường ta rũ sạch
Sống với lòng Đất Mẹ, với kiêu sa
Bàn tay vỗ nhịp ta ca
Ca tình sông núi chan hòa lòng trai
 
(1960)
Ghi chú: bài này viết chung với Yên Hà.(1)
 

Tuổi thơ của Trần Huiền Ân gắn liền với những nhọc nhằn của dân tộc trong bối cảnh toàn dân đứng lên đánh duổi thực dân Pháp. Thời gian này, 95% người dân không biết chữ. Được đi học ở giai đoạn này là niềm hạnh phúc của ông. Trong bài “Hẹn Xưa”, viết năm 1966, ông kể lại chuyện ông đi học trong những ngày tháng ấy. Thời gian học là ban đêm. Nơi học là mái hiên đình. Ngòi bút là tre vót nhọn và giấy vở thì rất thô sơ, được chế biến từ rơm. Khó khăn là như vậy nhưng ai cũng đều ham học với ước vọng mai sau sẽ góp phần xây dựng quê hương. 

HẸN XƯA
 
Tôi đi học giữa những ngày kháng Pháp
Áo quần thô xám nếp vải xi ta
Đêm đến lớp ngọn đèn chai gió táp
Tắt vội vàng khi tiếng máy bay qua
 
Chúng tôi ngồi quanh hiên đình chật hẹp
Bóng thầy chao trên vách chắn phên thưa
Chòm tóc ngắn bên những vồng tóc kẹp
Ngước uống từng lời mắt sáng đong đưa
 
Ngòi bút dùng gốc tre già vót nhỏ
Giấy nam trung còn dấu sợi rơm hiền
Son thầy phê vàng hoe màu thuốc đỏ
Tôi nâng niu từng nét chữ nghiêng nghiêng
 
Tan buổi về lo chăn bò, cắt cỏ
Đắp nước, thăm đồng, mót lúa, đuổi chim
Thương cha mẹ già nua còn khốn khó
Nước mắt xuôi hàng..máu ngược về tim
 
Tuổi học trò của tôi là thế đấy
Trên đất khô cằn vượt nở hoa tươi
Quen thuộc quá nên nhọc nhằn chẳng thấy
Vòng tay ôm hoài bão ấm môi cười
 
Chúng tôi căm hờn quân thù tàn ác
Đốt sách, giết thầy, phá sập trường quê
Lưỡi lê nồng tanh máu người bạo sát
Đã không chừa em nhỏ mới a b
 
Chúng tôi nguyền lớn lên cùng xây dựng
Đất nước Việt Nam độc lập hòa bình
Cho những ngôi trường oai nghi sừng sững
Tiếng hát học trò thêm sáng bình minh
 
Và bây giờ theo tháng ngày xưa tính
Bạn bè trôi lưu lạc mất trong hồn
Tôi ngỡ ngàng tra thân vào nghiệp lính
Chợt giật mình nhìn lại hẹn lớn khôn
 
Buổi hàng buổi theo đoàn quân tiến bước
Ra thao trường tắm nắng gội mồ hôi
Tôi nhìn các em – nhìn tôi thuở trước
Chạy dọc đường bưng rổ bánh mâm xôi
 
Lời em rao lên cao rồi tắt nghẽn
Tầng dư ba không lả lướt chào mời
Đôi tay gầy cặm xương vào xác én
Khấp khểnh chân trần nhịp thở chùng hơi
 
Bán đi em, nhanh nhanh về đi học
Rồi thả trâu, rồi bế bé, trông nhà
Tôi xét mình xin cúi đầu trách móc
Bao lỡ lầm thiếu sót phận anh cha
 
Nên các em còn bơ vơ đói rách
Sớm tảo tần mong kiếm bát cơm vơi
Bốn năm tuổi mũi thòng chưa lau sạch
Đã đua tranh chen chúc với dòng đời
 
Tôi tự hỏi mình xưng tên chiến đấu
Cho các em cùng nối mộng cao xa
Hay cho những người cười trên lửa máu
Thêm sang giàu nhờ xáo thịt nồi da?
 
(1966)
 

Trong bài thơ này, ông đã nhắc đến người thầy bằng những dòng chữ rất thân thương. Nhiều năm sau này, ông vẫn còn nhắc đến những người thầy ấy trong một số bài viết với lòng kính trọng và biết ơn. 

Trần Huiền Ân là một nhà giáo. Ông có nhiều bài thơ viết về học trò của ông. “Học Trò Tôi”, viết năm 1964,  là một bài thơ hay. Bài thơ ghi lại hình ảnh thật dễ thương của học trò ông ở một số ngôi trường thuộc tỉnh Phú Yên sau năm 1954. Thời chiến tranh, nhiều em không đi học được; đến khi hòa bình lập lại mới có thể đến trường. Do vậy, một số học sinh tuổi đã lớn, có học sinh bằng tuổi ông thầy. Ngoài giờ học, các em phải làm đủ thứ công việc để phụ giúp gia đình, nhất là ở vùng nông thôn. Bài thơ thể hiện sự gắn bó, yêu thương và trách nhiệm của người thầy. đối với học trò. 

HỌC TRÒ TÔI
 
Ngày mới bổ ra (2)
Tôi dạy ở một vùng quê không thấy chân trời mặt biển
Học trò tôi
Đứa lớn bằng tôi
Đứa nhỏ như con chiền chiện
Áo cánh quần đùi
Mo cơm dỡ trên vai
Lủi bước chân không
Miệng nhẩm học bài
Đi học không bao giờ trễ
Việc lớp việc trường giúp thầy nào nệ
Bẽn lẽn cười không dám nhận lời khen
Những buổi trưa ở lại đến nhà quen
Bẻ cau mướn kiếm vài trái về cho mẹ
Hoặc rảo ngoài gò đào hang bắt dế
Gài con gà con cuốc nấu canh
Những đứa học trò hiền như cụm lúa xanh
Thiệt thà tựa vị khoai bùi mía ngọt
Bị điểm xấu thì nỉ non nỉ nọt:
Thưa thầy, thà đánh chục roi
Nước mắt khoanh tròng chực chảy dòng đôi…
 
Vài niên khóa giã các em ở lại
Tôi xuống núi, trả cho đàn em dại
Những đồi cao, lũng thấp, tuổi ngây khờ
Về tỉnh thành có đèn điện ô tô
Tà áo gió buông lơi dài đại lộ
Học trò tôi
Mai thả cánh như bướm đầy khắp phố
Những chân giày chân dép nhịp nhàng reo
Chẳng đứa nào trong chiếc túi tí teo
Không có vài đồng để mua cà rem, bánh sữa
Vài đứa được mẹ cha chiều hơn nữa
Có anh đưa chị đón lúc đi, về
Vài đứa bạn bè trông thấy mà mê
Bởi đi học bằng xe nhà bóng lượn
Lại vài đứa cha là sĩ quan, ty trưởng
Là kỹ sư, là bác sĩ có công xa
Trống tan rồi đủng đỉnh xách cặp ra
Tài xế đã ôm vô lăng ngồi đợi…
 
Học trò tôi
Mỗi năm thêm lớp mới
Mỗi năm tôi đón nhận biết bao tình
Dù những em có áo đẹp quần xinh
Đi học bằng xe VN hãnh diện
Hay những em tằn tiện
Bữa cơm trưa ăn muối ớt muối mè
Các em là măng mà tôi phải là tre
Tre phải đỡ cho măng non vượt dậy
Các em là những thiên thần mà mắt tôi trông thấy
Những thiên thần trỏ nẻo bước chân tôi…
 
(1964)
 

Trần Huiền Ân la người sống chí tình với bạn bè nên tình bạn là đề tài không thể thiếu trong thơ ông. “Bàn tay bẻ núi”,  viết năm 1976, là bài thơ ông viết  khi nhớ đến một người bạn thân. Như đã nói ở trên, ông thường dùng nhiều hình ảnh để minh họa cho cảm xúc.  Hình ảnh trong bài thơ này là những hình ảnh đẹp về một tình bạn thủy chung trong mọi hoàn cảnh. 

BÀN TAY BẺ NÚI
 
Tưởng tượng… bạn không nhìn ra ta
Má cóp làm như đã quá già
Trán thấp đôi lằn nhăn hiện rõ
Rối bù mái tóc bụi đường xa
 
Tưởng tượng… ta không nhìn ra bạn
Râu hùm tua tủa mày chuôi dao
Bàn tay bẻ núi căng gân thép
Áo khoác hờ phanh ngực tự hào
 
Tưởng tượng… một giây chìm lặng lẽ
Mắt nhòa tâm trí gọi ngày xưa
Rồi A một tiếng cùng vui sướng
Quên hết ngàn năm chuyện nắng mưa
 
Không thể, cho dù trong tưởng tượng
Chìm chìm một phút lỡ quên nhau
Không thể, cho dù trong tưởng tượng
Cầm dao cắt ruột chẳng nghe đau
 
Tưởng tượng… hôm nào ta đến bạn
Chiều xanh xanh đẹp nắng gay gay
Dưới này củi rẫy đen lem luốc
Trên ấy mây trời trắng nõn bay
 
Đêm đến gọi đàn sao mọc sớm
Vẫn sừng trăng cũ bạc cong cong
Cùng ngồi đốt lửa hong tâm sự
Ếch nhái kêu inh phía mặt đầm
 
Tưởng tượng… ta cùng say quá đỗi
Dăm vò rượu vục bát sành to
Nghiêng nghiêng… mặt đất nghiêng nghiêng nhỉ
Tiếng sóng xa như lắc mũi đò
 
Ta lặng im nghe trời đất nói
Ô kìa, trời đất cũng im nghe
Con nhà ai khóc vu vơ đó?
Con cuốc thương thân gọi chớm hè?
 
Ta ngã mình trên sương cỏ ướt
Dưới giàn hoa mướp dịu dàng thơm
Sáng mai bạn sẽ mang ra chợ
Quả bí quả cà đổi gạo cơm
 
Ta ngủ vùi khi men rượu thấm
Đầu non trăng đã lặn phương nào
Những linh hồn nhỏ chung đau khổ
Nhấp nháy trên ngàn vạn chấm sao
 
Tỉnh dậy canh tàn chong lạnh buốt
Soi mình khơi bếp lửa tàn tro
Thảm thương ta chỉ vì mươi đấu
Con kiến loanh quanh miệng chén bò
 
Muốn thét to mà nghe cổ khát
Ta thèm giọt nước giếng trong veo
Ta thèm như bạn cười khinh bạc
Bình thản yên xem ngọn lá vèo
 
Tưởng tượng… cho dù trong tưởng tượng
Đã thành có bạn ở bên ta
Ta dẫu nay lời hươu tiếng vượn
Chút lòng riêng bạn hiểu riêng ta
 
(1976)
 

Trần Huiền Ân sống một đời đạm bạc, không tranh đua, không hơn thua, không thù hận. Ông sống như một bậc hiền sĩ, thản nhiên trước những biến động của cuộc sống và sóng gió của cuộc đời. Giống như mọi gia đình ở miền Nam sau năm 1975, gia đình ông cũng gặp nhiều khó khăn trong thời bao cấp.  Bài thơ “Trà say” mô tả hình ảnh gia đình ộng vào một ngày Chủ Nhật thời đó. “Vợ đội tơi đi từ sáng sớm / Để kịp chen chân ở cửa hàng”…  “Lũ con nai nịt thành hiệp sĩ / Trên giường dàn trận quyết hơn thua / Gối làm khiên thước làm đoản kiếm/ Bốn thằng: ba tướng, một ngôi vua”. Hình ảnh thật ngộ nghĩnh. Trong gian khó, mọi người trong gia đình ông vẫn vui vẻ, vẫn sống chan hòa. 

TRÀ SAY
 
Thức dậy thấy trời như rớt bão
Sân tựa vườn hoang ngập lá cành
Cây ngã cây nghiêng cây lảo đảo
Giật mình con sẻ cóng bay nhanh
 
Vợ đội tơi đi từ sáng sớm
Để kịp chen chân ở cửa hàng
Bảy ngày mới có ngày chủ nhật
Trong nhà mắm hết gạo đang khan
 
Lũ con nai nịt thành hiệp sĩ
Trên giường dàn trận quyết hơn thua
Gối làm khiên thước làm đoản kiếm
Bốn thằng: ba tướng, một ngôi vua
 
Giây phút loay hoay nhóm lửa bếp
Gió quạt lò than thoắt đã hồng
Ta ngồi đun nước ngồi suy gẫm
Lẽ tuần hoàn xuân hạ thu đông
 
Trà đã không ngon không có bạn
Ta đọc thơ xưa uống một mình
Trà đã không ngon không có thuốc
Thèm hơi khói nhỏ trắng lung linh
 
Sờ túi vẫn nguyên là túi trống
Nhưng giá còn chăng được năm hào
Không nỡ sai con đội mưa gió
Xóm nghèo quán cóc cũng xa sao!
 
Ta đành uống cạn bình trà mốc
Như uống lòng ta vào lòng ta
Trà mốc cũng làm ta chuếnh choáng
Bất giác kêu lên một tiếng khà
 
Say trà nào phải như say rượu
Để nói huyên thiên phủ đất trời
Thu tay vào bụng tìm hơi ấm
Ta lặng nhìn mưa rơi… mưa rơi…
 
(1980)

Và cuối cùng, tôi muốn đề cập đến một nét đặc biệt nữa trong thơ Trần Huiền Ân: Đó là “sự biết ơn”. Biết ơn thiên nhiên kỳ diệu, biết ơn những người đã đem lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời này. Bài thơ “Ông lão trồng hoa” ghi lại câu chuyện ông lão căm cụi trồng hoa để đem lại niềm vui cho các gia đình mỗi khi Tết đến. Bài thơ là một thông điệp về sự tri ân đối với thiên nhiên, đối với  những người thầm lặng đem niềm vui đến cho mọi người. 

ÔNG LÃO TRỒNG HOA
 
Cứ mạnh thu là ông lão ấy
Suốt ngày cặm cụi với vườn hoa
Biết bao khó nhọc công lao vậy
Mới có màu xuân nở mọi nhà
 
Mưa bụi tung trời ươm hạt giống
Hòa phân ủ đất để chờ hoai
Mầm lên lá bé gây nguồn sống
Cứ mỗi ngày thêm một đốt dài
 
Thời tiết hợp rồi con khá lớn
Lìa nhau ra chậu kiểng xinh xinh
Từ nay ông lão thêm bề bộn
Chăm chút thân hoa rất tận tình
 
Sớm dậy hong sương, trưa chắn bóng
Chiều lo xới gốc, tưới, gia màu
Đêm đèn leo lét mờ lay động
Vạch nách soi chồi diệt lũ sâu
 
Không thấy khi nào ông lão rảnh
Lưng còng cúi mãi lại còng thêm
Trên môi điếu thuốc buồn tro lạnh
Bát nước đầy vơi vẫn cạnh thềm
 
Khuyết mấy vầng trăng hoa chớm nụ
Lả mình đón gió nhoẻn cười duyên
Từ xa ong bướm gom về đủ
Chớp cánh vờn quanh dệt cảnh tiên
 
Hoa nở chưa tròn bao kẻ ướm
Và hoa giã biệt chị em yêu
Vườn vơi hoa cũng vơi ong bướm
Cho đến hôm nao tuyệt dáng kiều
 
Hoa khắp mọi nhà phô sắc xuân
Đời vui quên bớt nỗi gian truân
Còn đây trơ mảnh vườn khô đất
Với chiếc lưng cong ngoại lục tuần
 
Buổi sáng đầu năm pháo nổ giòn
Gật gù hít nhẹ khói thơm ngon
Khoan thai nâng tách trà, ông lão
Tiếc khóm hoa xuân đã chẳng còn!
 
 (1962)
 

Văn tức là người. Tho Trần Huiền Ân như thế nào thì con người ông như thế đó. Chơn chất. Thật thà. Ngay thẳng. Thủy chung. Ông đề cao sự chân thành, giản dị, lòng biết ơn và sự tử tế. Có những giai đoạn đời ông gặp nhiều sóng gió nhưng ông vẫn đạp sóng cỡi gió và ngẩng cao đầu bước đi. Đọc thơ ông không chỉ để thưởng thức, để chiêm nghiệm mà còn có thể học được một điều gì đó từ một trái tim nhân hậu luôn luôn dành tình cảm yêu thương cho con người và cuộc sống xung quanh chúng ta. 

PHẠM CAO HOÀNG
Virginia, 1 tháng 8.2025 

11) Bài thơ “Chuyến đi dài” gồm 2 phần: phần viết về miền Nam là của Trần Huiền Ân và phân viết về miền Bắc là của Yên Hà. Phần của Trần Trần Huiền Ân (Từ câu đầu cho đến “Cầu Hiền Lương…” được soạn giả Bùi Văn Bảo (Bảo Vân) chọn in trong sách giáo khoa Việt Ngữ Tân Thư dành cho học sinh cuối cấp của bậc tiểu học.

(2) Bổ ra - Bổ: bổ dụng, tức là được tuyển dụng. Ở đây có nghĩa là lúc được “bổ” làm giáo viên.